Lẽ thường, một sự việc diễn ra, nhìn ở các góc khác nhau, mỗi người khác nhau sẽ cho ra các lý giải không giống nhau về sự việc đó. Khi đặt miếng pho mát lên đĩa, người đói nhìn, người no nhìn, người đang buồn nhìn, đang vui nhìn, người béo phì nhìn, trẻ em nhìn, người già nhìn… nhìn từ trên cao, nhìn ngang, nhìn dọc… tất cả cùng nhìn, nhưng mỗi người sẽ có một suy nghĩ, một cảm nhận không đồng nhất về miếng pho mát đó. Tuy nhiên, dù ai nhìn và nhìn từ góc độ nào thì miếng pho mát không thể là con ngỗng quay hay chai beer Heniger. Pho mát trên đĩa chỉ là pho mát trên đĩa.
Câu chuyện về góc nhìn miếng pho mát tương tự như câu chuyện về một vài nhóm ở quốc nội (NO-U, hội anh em dân chủ…) và hải ngoại (RFA, RFI, Việt Tân, Đảng nhân dân hành động, Cứu trợ người vượt biển…) cũng như lác đác vài nhân vật nghị sĩ, dân biểu một số nước phương Tây (Sanchez, Royer…) nhìn về Việt Nam. Với một dã tâm ấp ủ là chống phá nền hòa bình, ổn định của Việt Nam, rõ ràng rằng góc nhìn của họ là góc khuất, góc tối, góc đen. Tràn lan trên tất cả các công cụ quảng bá, lăng sê của họ, tuyệt nhiên không hề có một góc nhìn tích cực, phản ánh trung thực, sống động tình hình chính trị, xã hội Việt Nam. Mọi sự việc, hiện tượng hàng ngày diễn ra liên quan đến Việt Nam đều được họ thẩm thấu qua một lăng kính bóp méo, xuyên tạc và xuất bản những ấn phẩm vu cáo, đánh lận trắng trợn.
Nhóm quốc nội thì ra sức mượn cớ “yêu nước”, “chống tham nhũng”… nhằm xuyên tạc, gây rối an ninh trật tự, chống phá môi trường thanh tịnh ổn định. Nhóm hải ngoại thì chộp ngay lấy hoạt động dàn dựng của nhóm quốc nội để lăng sê, vu cáo Việt Nam. Mấy tên dân biểu, nghị sĩ nước ngoài thì vào ùa ngồi phán như thánh về dân chủ, nhân quyền tại một đất nước mà họ còn chưa từng đặt chân đến một cách đàng hoàng. Rõ ràng rằng, từ một góc nhìn khuất, được chi phối mạnh mẽ bởi động cơ thiếu tính xây dựng và khách quan thì không thể lý giải, phân tích trung thực về bất kỳ sự việc nào, chứ chưa nói đến các vấn đề “quốc kế dân sinh”.
Sự thật thì không thể mua được bằng ngàn tỉ điều dối trá. Có chăng, ngàn tỉ điều dối trá ấy chỉ lừa bịp, che mắt được một vài người thiếu hiểu biết, hoặc nhận thức vốn đã khiếm khuyết. Sự phát triển kinh tế, xã hội, môi trường chính trị ổn định, đời sống người dân được nâng cao từng ngày, uy tín chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định. Đó là sự thật không thể phủ nhận. Mọi góc nhìn đều phải đưa về giá trị thực tế trung thực, khách quan.
Bù Nhìn Rơm


XA QUÊ....

Bấy lâu rồi vẫn lại xa quê
Nhớ ơi nhớ lắm mái nhà Việt Nam
Ngàn dặm cách trùng mây biển thẳm
Trở về trong tiếng nấc thương mẹ, thương cha
Lưng mẹ còng trong gánh lúa nuôi con
Mồ hôi cha thấm đẫm đất quê hương
Ký ức xưa nghẹn ngào khoảnh khắc
Đánh đáo chăn trâu tầm vông vẫy vùng
Cánh diều thong thả vút trời thanh bình quá
Việt Nam! Việt Nam ơi!
Đất mẹ nghèo bất khuất kiên trung
Dạt dào ôm con lời ru à ơi thương nhớ
Bốn bể tha phương đất khách quê người
Thổn thức tim ta hai chữ Việt Nam!
Tổ quốc là cha, quê hương là mẹ
Mỗi trái tim xa là người con nhỏ
Mong ngày về bên mẹ, bên cha.

Canada, Nguyễn Hùng Việt
Lâu nay, Internet không thiếu chiêu bài bày tỏ thiển ý của RFA cùng băng đảng của mõ này. Rất nhiều cặp đôi lên sàn múa cột rồi cả thẩm du ảo vọng xuyên tạc, vu cáo thực tế chính trị - xã hội Việt Nam. Tháng 4, đám chấy rận hải ngoại và quốc nội được đà phấn khích trước chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước Việt Nam ân xá trước thời hạn với ba phạm nhân Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung và Vi Đức Hồi. Cái phấn khích như thường lệ lại trở thành quá khích và thượng mã phong. Gió chiều nào, be chiều ấy, đường thẳng tắp, hà cớ lại xuyên cho cong và vọc cho “trắng thay đen”.
Trước những hành vi phạm pháp, Hà Vũ, Tiến Trung, Đức Hồi đều nhận tội và chấp hành bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Trong khi người phạm tội nhận tội, chứng cứ rõ ràng, thì bên ngoài trại giam bè lũ băng đảng lại hô hào, vận động, vu cáo cơ quan chức năng, xuyên tạc sự thật rất bợm trợn. Chúng thành lập các nhóm trí trá như hội bầu bí tương thân, câu lạc bộ tù nhân lương tâm gì gì đó… Nhằm “ủng hộ” tinh thần cho kẻ phạm tội. Hay nói cách khác, đồng tình cùng cái xấu, cái ác.

Nay khi những phạm nhân kia cải tạo tốt, pháp luật khoan hồng, được ra tù trước thời hạn thì như chộp được cái cớ, Phạm Chí Dũng cùng Thụy My của RFA được thể lên sàn diễn trong vai kẻ tung người hứng, đứa xuyên tạc, thằng vu cáo. Chúng gọi chính sách khoan hồng là “một phép màu”. Phải chăng, phép màu chỉ tồn tại trong thế giới không thực. Có lẽ, do tồn tại lâu quá trong u mê ảo vọng, nên không còn phân biệt thực hư, hư thực. “Dù gì cuộc sống buồn khổ này cũng có những lúc lãng mạn” - Tung, hứng lố lăng đến lõa thể. Thay vì quan tâm đến cuộc sống của phạm nhân sau ra tù có hòa nhập tốt vào cộng đồng, có nghề nghiệp sống lương thiện hay không, thì lại thể hiện ngay những toan tính kích thích người vừa tự do quay lại cánh cửa mặc áo “cà sa đen trắng”. Đúng là nói bao giờ cũng “dễ” hơn làm.
Đi từ cảm xúc ngất ngây, Chí Dũng và Thụy My thụt ngay xuống vấn đề cốt pha là xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền. Quá trình tố tụng hình sự, cơ quan chức năng thực hiện theo trình tự, thủ tục, hợp pháp cũng bị xoáy, nay khoan hồng nhân đạo cũng bị xoay. Lạ thật! Đi tù và ra tù cũng thành vở diễn kinh niên của mõ và chư hầu của mõ. Chưa tin vào kỹ xảo vu cáo của mình, cặp Dũng & My thêm da vị cho món hổ lốn: “Còn nếu nhìn theo cách của CPJ – Tổ chức quốc tế Bảo vệ nhà báo – hẳn Nhà nước Việt Nam đang thực hiện chủ trương “đổi nhân quyền lấy viện trợ”.
Suốt ngày, mồm ra rả nói thượng tôn dân chủ, nhân quyền, nay lại bày trò nghĩ được cái kịch bản bán đứt nhân quyền cho USD. Kẻ xuyên tạc, vu cáo đã xấu, cách thức vu cáo còn xấu hơn thế nhiều lần. Đến Chính phủ Hoa Kỳ và tổ chức nhân quyền Liên Hợp quốc chắc cũng chả nghĩ ra được cái cụm từ dã man đến vậy: “đổi nhân quyền lấy viện trợ”.
Phạm tội là kẻ xấu, kẻ cổ súy cho tội phạm là đồng phạm và còn xấu xa, mạt hạ gấp trăm ngàn lần kẻ phạm tội. Phạm Chí Dũng và Thụy My, cặp đôi múa cột và thường thẩm du ảo vọng ngày càng trượt dài trên con đường chống lại nhân dân và Tổ quốc, phá hoại nền dân chủ, hòa bình, ổn định chung của nhân loại.

Tương Khắc Dũng
Ngày 18-12-2013, cái gọi là Ủy ban bảo vệ các nhà báo (CPJ) đã công bố báo cáo thường niên, trong đó đưa ra thống kê về "các nhà báo bị cầm tù" trên thế giới. Từ nội dung liên quan tới Việt Nam trong báo cáo, có thể đặt câu hỏi: Phải chăng, CPJ không chỉ vu cáo, xuyên tạc tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, mà còn tiếp tay cho một số cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật?
Từ năm 1990, cái gọi là "Ủy ban bảo vệ các nhà báo" (CPJ, có trụ sở tại New York - Hoa Kỳ) bắt đầu tổ chức "nghiên cứu", thống kê và công bố báo cáo về tình trạng giam giữ các nhà báo trên toàn cầu. Trong báo cáo của các năm trước, CPJ đã nhiều lần sử dụng thủ đoạn "đổi trắng thay đen" để xuyên tạc, vu cáo tình hình báo chí ở Việt Nam. Báo cáo năm 2013 cũng vậy, CPJ xếp Việt Nam vào vị trí thứ năm trong số các quốc gia có "nhà báo bị cầm tù", với lập luận rằng: sở dĩ số lượng nhà báo bị cầm tù tại Việt Nam tăng lên là do chính quyền tăng cường đàn áp blogger - những đối tượng được CPJ gắn cho nhãn hiệu "nhà báo độc lập"!
Tuy nhiên, nhìn vào danh sách CPJ liệt kê rồi liên hệ với sự thật, người am hiểu vấn đề đều có thể nhận ra và khẳng định đó là các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam, đã bị xử lý theo pháp luật. Việc này không mới. Bởi những năm gần đây, CPJ đã nhiều lần đưa ra nhận xét, đánh giá sai lệch tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, ca ngợi một số blogger và mấy kẻ xuất hiện trên internet chỉ để xuyên tạc, tuyên truyền kích động chống phá Ðảng và Nhà nước Việt Nam. Gần đây, ngày 17-11-2013, CPJ trao giải "Tự do báo chí quốc tế" cho bốn cá nhân, trong đó có Nguyễn Văn Hải (tức blogger "Ðiếu cày") - đối tượng đang phải thụ án 12 năm tù về tội "tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam". Không dừng ở đó, CPJ còn phát động chiến dịch ký thỉnh nguyện thư "ủng hộ các nhà báo Việt Nam bị cầm tù", rồi gửi thư tới lãnh đạo Ðảng, Nhà nước Việt Nam đưa ra đòi hỏi rất vô lý. Thậm chí, CPJ còn gửi thư tới chính quyền Mỹ để đề nghị gây sức ép với Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền! Tại sao mang danh là tổ chức phi chính phủ hoạt động độc lập, mà những người ở CPJ lại biến tổ chức này thành công cụ phục vụ cho các mưu toan của một số thế lực thù địch, hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam?
Năm 1981, tại Hoa Kỳ, một nhóm người đứng ra thành lập CPJ với mục đích "khuyến khích tự do báo chí toàn cầu và bảo vệ quyền của các nhà báo trong việc truyền tải thông tin mà không sợ bị tấn công, cầm tù, giết hại, bắt cóc, đe dọa, kiểm duyệt hoặc sách nhiễu". Hoạt động chủ yếu của CPJ là đưa tin, xuất bản các bài báo, phóng sự, tạp chí và tiến hành khảo sát hằng năm về tự do báo chí toàn cầu; lựa chọn, trao giải "tự do báo chí quốc tế" cho các "nhà báo" và những người bảo vệ quyền tự do báo chí đã bị đánh đập, đe dọa hoặc cầm tù; tham gia sáng lập và hỗ trợ hoạt động của mạng lưới tự do trao đổi ý kiến quốc tế. Tuy nhiên, mục đích ít nhiều có tính tích cực ấy lại không được CPJ tuân thủ nghiêm ngặt. Chỉ riêng các ý kiến về hoạt động báo chí ở Việt Nam đã cho thấy, CPJ thiếu thiện chí, vô căn cứ và thiếu tinh thần xây dựng. Không rõ vì coi nhẹ yếu tố khách quan, hay không đủ năng lực, nhân sự, kinh phí tiến hành các khảo sát, điều tra, tìm hiểu cụ thể, nghiêm túc về tự do báo chí tại các nước, trong đó có Việt Nam, mà các kết luận của CPJ rất thiếu thực tế, thậm chí là xuyên tạc thực tế. Nhìn vào những thông tin, số liệu được CPJ sử dụng làm căn cứ để xây dựng báo cáo, thống kê, không khó để nhận ra CPJ chủ yếu cóp nhặt từ internet, đặc biệt từ website của các tổ chức, cá nhân thù địch với Việt Nam; và các cá nhân được CPJ chọn trao giải "tự do báo chí quốc tế" đều có "thành tích" chống phá chính quyền nhiều hơn là thành tích viết báo!
Người Việt Nam hay người nước ngoài có quan tâm một cách nghiêm túc đến tình hình Việt Nam trong những năm qua, đều biết những người như Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Hải, Trần Huỳnh Duy Thức,... chỉ viết blog (blogger), chưa bao giờ được gọi là nhà báo. Sản phẩm của họ chỉ đăng trên một số blog, trên một số diễn đàn thù địch, thiếu thiện chí với Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Những gì họ viết ra đã vi phạm pháp luật, và bị tòa án xét xử. Trong danh sách của CPJ, có hai người từng là nhà báo là Hoàng Khương, Võ Thanh Tùng, nhưng đáng tiếc, người này đã tự làm mất uy tín của mình vì có hành vi phạm pháp. Về Hoàng Khương, Võ Thanh Tùng, nếu thật sự quan tâm, những người ở CPJ chỉ cần tra cứu các thông tin trên internet là hiểu rõ bản chất vấn đề. Và nếu tra cứu, họ phải thấy xấu hổ khi đọc thư xin lỗi của Võ Thanh Tùng gửi bạn đọc báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh và Ban Biên tập báo này, trong đó viết: "Khi bạn đọc biết đến tôi như một nhà báo, phóng viên đã dũng cảm đấu tranh chống tiêu cực thì chính những lúc này, tôi đã phải đối mặt với hình phạt của pháp luật khi không chiến thắng được những cám dỗ của vật chất. Chính tôi đã lợi dụng các bài báo trên để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng danh nghĩa phóng viên tác động vào các hoạt động đúng đắn của Nhà nước để trục lợi cá nhân. Việc làm trên của tôi đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh nói riêng và hình ảnh của người làm báo, cũng như đã làm xấu đi hình ảnh của tôi trong lòng bạn đọc... Tôi đã tự nguyện khai báo tất cả các nội dung sự việc với mong muốn sửa chữa các sai lầm, khắc phục các vi phạm. Tôi biết việc vi phạm pháp luật của tôi sẽ bị Nhà nước trừng trị. Nhưng việc trừng trị để cho tâm hồn tôi được thanh thản nên tôi sẵn sàng chấp nhận". Tóm lại, những người mà CPJ bảo vệ đều không bị Nhà nước Việt Nam xét xử vì là nhà báo; họ bị xét xử trong tư cách công dân có hành vi vi phạm pháp luật. Không phân biệt được điều này thì hành động ủng hộ việc làm của họ về bản chất là bảo vệ cái xấu, tiếp tay cho cái xấu.
Ðể biện hộ người được tổ chức này bảo vệ, CPJ đã đưa ra định nghĩa hết sức mơ hồ khi coi "nhà báo" là "những người đưa tin, bình luận về các sự kiện công khai trên ấn phẩm báo in, báo ảnh, phát thanh, truyền hình hoặc báo điện tử". Với định nghĩa không xác định rõ nội hàm, không làm nổi bật được đặc trưng và sản phẩm của nghề báo, CPJ đã tạo điều kiện cho chính CPJ và một số tổ chức, cá nhân đánh tráo khái niệm để đánh đồng blogger với nhà báo, biến bất kỳ người nào viết và đưa lên mạng thành nhà báo; từ đó cổ vũ, khuyến khích công dân của các quốc gia vi phạm pháp luật. Ðặc biệt với định nghĩa như trên, CPJ đã bỏ qua hoặc không quan tâm tới đạo đức của người làm báo - yếu tố cực kỳ quan trọng đối với nghề nghiệp có ảnh hưởng, tác động rất lớn tới xã hội. Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, khái niệm báo chí, khái niệm nhà báo cũng thay đổi, theo hướng mở rộng biên độ, nhưng có một điều bất biến mà công chúng luôn đòi hỏi ở người làm báo là không chỉ có "tài" mà còn phải có "tâm". Và những nhà báo được xã hội và công chúng tôn vinh luôn là các cây bút có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa "tài" và "tâm". Vì thế, các định nghĩa về nhà báo từ Ðông sang Tây đều khẳng định rõ yêu cầu về hai phẩm chất này, theo John Hohenberg - nhà báo Hoa Kỳ nổi tiếng, thì một nhà báo chuyên nghiệp, cần có các điều kiện tối thiểu là: "học hành đầy đủ, được huấn luyện hợp lý và có tinh thần kỷ luật; thích nghi với những kỹ thuật căn bản của báo chí; có ý chí thực hiện những công việc đôi khi gây bất mãn và thường không được đền bù; tuyệt đối tôn trọng sự chính trực cá nhân và nghề nghiệp". Gần gũi với ý tưởng của Hohenberg, nhưng quan điểm của Tam Lang, một nhà văn, cây bút phóng sự nổi tiếng của Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cũng chú trọng tới lương tâm nghề nghiệp của mỗi nhà báo, bởi ông cho rằng: "Ðịnh giá trị của một người làm báo, nhất là làm nhật báo, người ta không thể chỉ căn cứ vào học lực của người ấy, mà sự căn cứ vào lương tâm nghề nghiệp mới là điểm tối cần". Khi CPJ không quan tâm tới đạo đức của người làm báo, phải chăng tổ chức này hướng tới và cổ vũ cho xu hướng làm báo vô chính phủ, bất chấp luật pháp?
Luật Báo chí Việt Nam có các quy định, yêu cầu cụ thể tại các điều Ðiều 14, Ðiều 15, trong đó viết rõ: "Ðiều 14. Nhà báo: Nhà báo phải là người có quốc tịch Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại Việt Nam, có đủ các tiêu chuẩn chính trị, đạo đức và nghiệp vụ báo chí do Nhà nước quy định, đang hoạt động hoặc cộng tác thường xuyên với một cơ quan báo chí Việt Nam và được cấp thẻ nhà báo. Ðiều 15. Quyền và nghĩa vụ của nhà báo: Nhà báo có quyền và nghĩa vụ sau đây: 1. Nhà báo có quyền và nghĩa vụ thông tin trung thực, phản ánh ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, góp phần thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; 2. Nhà báo có quyền hoạt động báo chí trên lãnh thổ CHXHCN Việt Nam; 3. Nhà báo chịu trách nhiệm về nội dung tác phẩm báo chí của mình; có quyền khước từ việc biên soạn hoặc tham gia biên soạn tác phẩm báo chí trái với Luật này; 4. Nhà báo được hưởng một chế độ ưu tiên, ưu đãi cần thiết cho hoạt động báo chí theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng; Không ai được đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo hoặc phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo trong hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật; Không ai được lạm dụng danh nghĩa nhà báo để làm việc vi phạm pháp luật". Từ hai điều dẫn ra trên đây, cần khẳng định, nếu mỗi nhà báo đều hội đủ các tiêu chuẩn chính trị, đạo đức, nghiệp vụ, luôn thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình thì sẽ được công chúng quý trọng, và cũng sẽ luôn nhận được sự trân trọng của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Ðó cũng là điều mà mọi người làm báo ở Việt Nam luôn cố gắng để ngày càng hữu ích hơn với xã hội và con người. Ðó cũng là bằng chứng xác thực nhất phản bác sự vu cáo, xuyên tạc của CPJ.

(Theo: HUỲNH TẤN, nhandan.com.vn)
           
Theo một số người gắn bó với chế độ ngụy quyền và từng có thời gian tham gia tích cực trong phong trào chống Cộng trước đây, nay giải nghệ cho rằng: “Bây giờ một số nhóm hải ngoại và ngay cả số trong nước được dựng lên có cách chống cộng rất khôi hài là chống bằng cái mồm rỗng”.
            Quả thật, khôi hài, rất hài kịch. Nếu như, một bộ phận có quyền lợi gắn với Việt Nam Cộng hòa trước 1975, sau 1975 ôm lòng hận thù và có phần trách nhiệm ra sức chống phá chế độ cộng sản thì đã đành rằng…. Nhưng nay, ngay cả một số tên được cho là tiếp nối dạng “truyền lửa” ở thế hệ thứ hai, thứ ba cũng loay hoay như kiểu đánh nhau với Cối xay gió của Donkyhote… Thực tế, các nhóm như Việt Tân, Đảng nhân dân hành động, N0 - U, hội anh em dân chủ, con đường Việt Nam…, hạt nhân tiêu biểu hải ngoại có Đỗ Hoàng Điềm, Lý Thái Hùng, Lê Quốc Quân, Nguyễn Sĩ Bình, trong quốc nội có nào là Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Quốc Quân, Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài, Cù Huy Hà Vũ, đám trẻ trâu như Nguyễn Lân Thắng, Nguyễn Phương Uyên… đang diễn những trò vui mang tên Hài Kịch.

            Trong phạm vi bài viết, xin được đề cập đến nhóm diễn “No-U”. Như cách diễn giải phân trần của các diễn viên, “No-U” mang nghĩa đại loại là phản đối đường lưỡi bò do Trung Quốc vẽ. Mượn cớ một đường lưỡi bò được vẽ trên giấy của Trung Quốc, một vài tên vốn ấp ủ mưu toan chống phá hòa bình, ổn định của Việt Nam trỗi dậy, tụ họp nhau dưới cái tên đầy tượng hình “No-U” hòng mị dân, lừa bịp quần chúng (tiếc rằng không lừa được ai) và che mắt bà con nơi hải ngoại (vải thưa khó che mắt thánh). Bản chất của No-U là chống Việt Nam chứ không chống Trung Quốc, phá hòa bình, ổn định của đất nước chứ không xây chủ quyền, độc lập cho đất nước (vì có ai xây nhà bằng cái mồm rỗng?); xuyên tạc, vu khống chứ không thể hiện điều gì trung thực, khách quan hết thảy. Cách No-U hành xử đầy nham hiểm. Hãy trông những gì No-U làm, đừng tin những gì No-U nói.
            No-U thường xuyên đánh cắp lịch sử, tráo trở nhân danh những vị anh hùng đã ngã xuống bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc để lấy cớ tụ tập gây rối trật tự công cộng. Điển hình như các cuộc tụ tập kỷ niệm ngày chiến tranh biên giới phía Bắc đầu năm 2014 vừa qua. Mồm kêu gào thống thiết, trả lời phỏng vấn hùng hồn nhưng cảm xúc thật thì khó che qua bộ mặt vốn giả nhân nghĩa. Ai rằng tưởng niệm những người đã ngã xuống lại hố hồ cười một cách lõa lồ:


            Từ thủa khai thiên lập địa đến nay, từ khi người Việt xuất hiện trên dải đất hình chữ S, không có lòng yêu nước chân chính nào được thể hiện theo cách của các thành viên No-U.  Bản chất của No-U đơn giản chỉ là một biến tướng của show diễn chống Việt Nam đầy chất hài kịch do một số kẻ giật dây câu kết với ngoại bang hòng nuốt chửng nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Tiếc rằng, chưa và không bao giờ ý đồ đó thành hiện thực, mãi chỉ là ảo vọng thô thiển mà thôi. Một vở hài kịch trò mèo.
Việt Tân
Công nghiệp giải trí của phương Tây luôn cuốn hút không chỉ người chơi, mà cả khán thính giả theo dõi các trò chơi đó. Ở phương Tây, họ chơi hết mình và chơi chỉ đơn giản là chơi, đúng nghĩa với hai chữ “giải trí”. Còn ở Việt Nam, mới nay có một thú chơi khá lạ và đặc sắc “độc nhất, vô nhị”, ta tạm gọi ấy là trò “nằm đường”. Vốn dĩ, thú chơi dân gian có leo cột mỡ cũng khó tài nào khôi hài hơn thú “nằm đường”. Leo cột mỡ chỉ có dịp lễ hội, ai cũng có thể chơi, người trong cuộc thì hào hứng thi tài, người xem thỏa sức cười vui. Còn trò chơi “nằm đường”, không phải ai cũng chơi được và thay vì mang lại tiếng cười, sự cuốn hút giải trí thì “nằm đường” lại đem đến sự phẫn nộ, hiếu kỳ cho người xem một cách kỳ quặc. Để chơi được trò “nằm đường” thì người chơi cần có một bộ não hủ hóa, sẵn sàng gào thét vỡ họng để chứng minh cho những điều vốn không có thực, giả dối và ngụy tạo của bản thân. Thực tế, thì không phải ai cũng làm được nên dường như rất rất hiếm người chơi.
Cách chơi trò này được bày đặt như sau: trước hết tìm dăm bảy người, tụ tập nơi công cộng gây rối trật tự an ninh, hò thét nào là “hiểm họa bắc triều”, “yêu nước này nước nọ”… Sau đó, các bác giữ trật tự phường phố gong cổ lại, tống một vài kẻ quá khích vào cách ly (nhằm khỏi ảnh hưởng tới môi trường hòa bình, ổn định). Nhóm còn lại, hí hửng kéo ra đường, ăn vạ “nằm đường” khoảng vài ba tiếng, theo kiểu “hạ thổ”, vài tên trong số nhóm chơi quay phim, chụp ảnh update thành quả cuộc chơi cho mõ đài RFA, RFI để lăng sê. Lý giải về trò chơi kỳ cục này, một khán giả dấu tên cho biết: “có lẽ để hạ hỏa những xung thần kinh hâm dật, hoang tưởng thẩm thấu qua lớp nhựa đường và hòa tan vào các tầng địa chất!”.
Một số người dân lành quanh khu đường cùng các bác tài xế hiếu kỳ ngang qua xúm lại coi. Được đà, nhóm chơi “nằm đường” lại bật lên những tiếng kêu như bị “tẩu hỏa nhập ma” một cách thất thanh, xuyên tạc, vu khống nhiều điều. Một số khán giả bàn tán, một số bức xúc vì bị cản trở giao thông, có bác tài không kìm được sự nóng giận hô lớn “cứ lăn xe qua đi anh em, muộn chuyến hàng rồi!”. Vài ba các chị đi chợ chiều tạt qua bàn tán “chắc họ vừa từ trại tâm thần lạc ra đường”, các cụ già dắt chó đi đại tiện ngao ngán cho hay “chuyện ăn vạ giữa đường của kẻ dở người ấy mà, còn lạ chi”….
Mới nghe đôi ba lời bình phẩm, càng thấy tỏ tường cái trò “nằm đường”, không những hiểm nguy (xe lăn qua, xúc vật đá phải…), khôi hài trong vai kịch kẻ tâm thần, ngao ngán mang danh kẻ ăn vạ… Quả thực, “nằm đường” là trò xưa nay hiếm, kỳ quặc, quái dị và người bình thường chẳng ai chơi. Mong rằng, các đạo diễn giải trí nước ngoài có thể làm một cuộc khảo cứu để tính toán sự khả thi để đưa trò “nằm đường” vào thế vận hội Olympic nên chăng?

Mỗi ngày qua, thêm một hiểu biết mới… Lý thú.
Đa Nhĩ Cổn
Bà Lý Liều Mẩy (bên phải) tư vấn chăm sóc sức khỏe sinh sản cho chị em phụ nữ thôn Kin Chu Phìn, xã Nậm Pung.
3 giờ sáng ở bản Kin Chu Phìn - bản cao và xa nhất xã Nậm Pung, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, trời vẫn dày đặc sương mù và rét như kim châm vào da thịt. Không hiểu linh tính mách bảo điều gì mà bà Lý Liều Mẩy cứ trằn trọc không ngủ được.
Bỗng có tiếng chó sủa nhức tai phía cổng nhà. Bà Mẩy vội vàng mở cửa khi nghe tiếng gọi gấp gáp của anh Tẩn Sài Chỉn, chồng chị Lý Lở Mẩy: “Vợ mình đang đau bụng lắm, sắp sinh em bé rồi. Sang giúp vợ mình với!”. Thế là chỉ kịp mặc chiếc áo khoác vào người cho đỡ lạnh, bà Mẩy đeo chiếc túi có bộ đồ đỡ đẻ, vội vàng theo chân anh Chỉn vượt quãng đường dốc lổn nhổn đá nhọn về nhà anh.
Trong ngôi nhà gỗ nhỏ dưới chân núi Kin Chu Phìn, chị Lý Lở Mẩy bụng to vượt mặt đang thở hổn hển, mặt tái đi trong cơn đau quằn quại. Bà Lý Liều Mẩy rửa tay thật sạch, ngâm nước sôi sát trùng bộ đồ đỡ đẻ và động viên người sản phụ giữ nhịp thở thật đều để chuẩn bị cho lần vượt cạn đầu tiên trong đời. Hơn một tiếng sau, có tiếng trẻ con khóc oe oe. Bà Lý Liều Mẩy trao chú bé Tẩn Láo Tả kháu khỉnh, bụ bẫm vừa lọt lòng mẹ cho anh Chỉn. Sản phụ mặt lấm tấm mồ hôi, nở nụ cười biết ơn người phụ nữ đã giúp mình vượt cạn.
Khi tiếng gà gáy đầu tiên cất lên, bà Mẩy mới lục tục trở về nhà, thông báo tin vui cho mọi người rằng bản Kin Chu Phìn đã có thêm một nhân khẩu mới. Trước lúc về, bà không quên nhắc vợ chồng anh Chỉn những điều kiêng kị đối với phụ nữ vừa sinh nở và cách chăm sóc bé Tẩn Láo Tả khỏe mạnh, hay ăn chóng lớn.
Bà Lý Liều Mẩy là một trong số hàng trăm cô đỡ thôn bản đang ngày đêm vượt qua mọi khó khăn, hết lòng với công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân ở vùng cao Lào Cai.
Cháu Tẩn Láo Tả chỉ là một trong nhiều trẻ em ở thôn Kin Chu Phìn, xã Nậm Pung được bà Mẩy đỡ đẻ an toàn trong suốt hơn một năm qua. Bà Lý Liều Mẩy chia sẻ về công việc của mình: “Năm 2012, mình được Nhà nước cho đi học lớp dành cho những cô đỡ thôn bản, được học cách tư vấn, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em và đỡ đẻ an toàn. Sau 6 tháng lớp học kết thúc, mình về bản và đem những gì học được để giúp đỡ mọi người. Bản Kin Chu Phìn có trên 120 hộ là đồng bào Dao đỏ và Hà Nhì sinh sống. Do nhận thức hạn chế, nên trước đây phụ nữ trong bản khi mang thai không biết chăm sóc sức khỏe bản thân. Làm cô đỡ thôn bản, mình tư vấn cho chị em nên đi khám thai định kỳ, tiêm phòng uốn ván đầy đủ. Ngoài ra, cần giữ gìn sức khỏe, không được làm việc nặng và chú ý ăn nhiều thịt, cá, trứng, sữa bổ sung vitamin để cả mẹ và thai nhi đều khỏe. Mình cũng tuyên truyền các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai, không sinh con thứ ba để có điều kiện nuôi dạy con tốt”.
Nhờ cách tuyên truyền đơn giản, dễ hiểu của bà Lý Liều Mẩy, hầu hết phụ nữ mang thai trong thôn đều đến cơ sở y tế để khám thai định kỳ và sinh nở an toàn. Năm 2013, các cháu: Tẩn Láo Tả, Tẩn A Lở, Tẩn Ngọc Lan, Tẩn Trung Ngĩa, Lý Tả Mẩy chào đời đều do bà Mẩy đỡ. Mỗi lần đón một cháu bé ra đời mạnh khỏe, bà cảm thấy rất vui.
Khi được hỏi về mức thu nhập hàng tháng, bà Mẩy tâm sự: “Mỗi tháng chỉ được 50.000 đồng thôi, nhưng mình làm vì trách nhiệm với bà con, chứ bằng đấy tiền không đủ để mua cân đường, hộp sữa thăm các cháu”.
(Theo baotintuc.vn)
Cuộc sống là một quá trình, là sự chắp nối cảm xúc của những hành trình ở và đi, đi và ở. Ở với đời và ra đi với cát bụi. Có những cuộc chia ly khiến người đi, kẻ ở ngậm ngùi rớm lệ, tình cảm dạt dào. Nhưng, có những sự ra đi trong tủi nhục, ra đi vì buộc phải đi và nơi đến đón chào trong cảnh éo le. Đó là sự ra đi của những kẻ chống lại nhân dân, đất nước. Họ ra đi người ở mừng vui, đất nước bớt đi một gánh nặng vì phải cảnh giác với các hoạt động chống phá hòa bình, ổn định chính trị xã hội mà họ gây ra. Ra đi ấy, như một cuộc tháo chạy của kẻ bại trận vì hành vi đen tối bất thành. Hay đó là một cái cớ để kiểm VISA đơn thuần?
Bùi Tín, Dương Thu Hương, Trần Khải Thanh Thủy và nay là Cù Huy Hà Vũ… Mỗi người ra đi trong một hoàn cảnh khác nhau. Tháng 9 năm 1990, Bùi Tín sang Pháp dự hội hàng năm của báo L'Humanité, rồi chộp dật lấy cơ hội “ngàn vàng” xin tỵ nạn tại Pháp, mục đích chống phá Việt Nam theo chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” nơi hải ngoại. Tiếp đó, Dương Thu Hương sau hàng loạt hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc đất nước, 2006, cũng ra đi sang Mỹ rồi Pháp, ở lại đó luôn. Gần đây, khoảng 2011, Trần Khải Thanh Thủy sau khi nhận được sự khoan hồng của Nhà nước, cũng gói hành lý qua Mỹ với sự “chào đón” của dân biểu Loretta Sanchez "chào đón nhà văn Trần Khải Thanh Thủy về với tự do". Mới đây nhất, Ngày 7 tháng 4 năm 2014, Cù Huy Hà Vũ được khoan hồng, ân xá trước thời hạn và đi Hoa Kỳ với lý do được cho là để chữa bệnh…. Những cuộc ra đi không biết có đường trở về?
Xét ở chừng mực tương đối và trong hoàn cảnh cụ thể với những cuộc ra đi trên cho thấy “cái gì hợp lý thì tồn tại”. Khi mà sự tồn tại của họ không hợp lý, không phù hợp với giá trị chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực xã hội và văn minh là chuẩn mực pháp lý thì họ không thể tồn tại được, chứ chưa nói gì đến sự sống của danh từ CON NGƯỜI. Hội ngộ và chia ly, đó là phạm trù song hành của cuộc sống, mâu thuẫn để tồn tại, phát triển. Sự ra đi của những con người chống lại Tổ quốc là hệ quả tất yếu của một quá trình dài đằng đẵng của những toan tính và hành động lệch chuẩn cần phải đào thải. Vốn trong họ, chưa bao giờ hội ngộ, đồng hành cùng dân tộc Việt Nam. Khi ở quê hương, họ luôn có tư tưởng ly khai, chia rẽ, phá hoại sự đoàn kết thống nhất. Nay họ ra đi, âu cũng là cái mệnh khó tránh.
            “Khi xa rồi mới thấy nhớ thương
            Đất nước quê hương cha mẹ chờ”
Nơi đất khách, quê người, chốn trưng bày của hoa mĩ “tự do”, “dân chủ” được ca tụng, mong rằng buốt lạnh và cô đơn sẽ gột rửa phần nào tâm hồn của những chúng sinh ra đi ấy.

Đa Nhĩ Cổn

Nữ hoàng Anh Victoria (1819-1901)
Giai đoạn trị vì của Nữ hoàng Victoria (1819 - 1901) còn được biết đến với tên gọi thời đại Victoria - một thời kỳ với những tiến bộ công nghiệp, chính trị và quân sự tại Vương quốc Anh. Trong suốt thời kỳ này (từ 20/6/1837 đến khi nữ hoàng qua đời vào ngày 22/1/1901), bên cạnh những sáng chế phi thường, các nhà khoa học Vương quốc Anh còn có những phát minh “kỳ quái” không kém.

1. Máy hút thuốc tự động
Trong thời đại Victoria, hút thuốc lá đã trở nên phổ biến. Khác với công nghệ tạo khói ngày nay được sử dụng trên các sàn diễn, cỗ máy này lại được phát minh nhằm tạo ra… khói thuốc. Thay vì giảm thiểu ô nhiễm môi trường, chiếc máy này lại thay con người “hút” vài điếu xì gà cùng một lúc rồi phả ra khói thuốc lá. Mục đích của việc ra đời chiếc máy này vào những năm 80 của thế kỷ XIX chỉ như một trò tiêu khiển nhưng đã thúc đẩy ngành công nghiệp thuốc lá phát triển.

2. Gậy đa chức năng
Mặc dù hơi kỳ quặc nhưng công dụng của chiếc gậy này là rất rõ ràng. Nó vừa có thể làm một chiếc sáo, một thước đo, một cái ô, một tẩu thuốc hay thậm chí còn được các quý ông thời đó sử dụng để… bắt bướm.

3. Máy liếm tem

Khi Internet thậm chí còn chưa được hình thành trong ý tưởng thì rõ ràng thư tay vẫn là công cụ truyền tải thông tin phổ biến và hữu dụng nhất. Tuy nhiên, với một số lượng lớn thư cần phải gửi, bạn sẽ không thể đảm bảo tốc độ và hiệu quả khi chỉ sử dụng lưỡi để dán tem. Và dụng cụ liếm tem ra đời vào cuối những năm . Nó nhanh chóng trở thành vật dụng không thể thiếu trong thời kỳ này.

4. Tấm chắn bảo vệ cho xe đạp


Năm 1890, công ty Overman Wheel đã phát minh ra kiểu xe có sử dụng các tấm chắn này nhằm phục vụ các quý bà, quý cô, những người luôn luôn diện trên mình những bộ đầm dài đến mắt cá chân.  Tấm chắn này được thêm vào để tránh việc chân váy vướng vào bánh xe gây nguy hiểm cho người sử dụng.


5. Cầu con lăn

Thay vì xây một cây cầu hoàn chỉnh thì thời kỳ này dường như người ta có xu hướng tạo ra những thứ phức tạp và sáng tạo rườm rà không cần thiết. Những đường ray được xây dựng giúp cầu trượt từ đầu bên này sang đầu bên kia. Nó có chi phí rẻ hơn và dễ dàng xây dựng hơn cây cầu hoàn chỉnh. Tuy nhiên, không lâu sau đó, thiết kế này đã hoàn toàn bị dỡ bỏ vì những hạn chế trong quá trình sử dụng. Họ tranh cãi xem lúc nào thì cần thu cầu, khi nào thì nên mở mỗi khi thuyền bè đi qua.

6. Máy chải lông ngựa
Những người ở thời đại Victoria đã nghĩ ra một ý tưởng nhằm mục đích đơn giản hóa công việc hàng ngày, đó chính là máy chải lông ngựa. Nhưng nào ai ngờ, các bánh răng và bàn chải được mắc nối phức tạp với nhau cũng như cách vận hành loại máy này không hề đơn giản chút nào. Chúng chỉ khiến cho mọi việc dường như phức tạp hơn, khiến người dùng khó chịu khi sử dụng. Phát minh này xứng đáng trở thành một trong những ứng cử viên sáng giá cho giải thưởng Ig-Nobel ngày nay.

7. Bàn viết ổn định
Với một hệ thống giao thông chỉ gồm tàu hỏa và ngựa, thật sự gây ra nhiều khó khăn cho những người bận rộn luôn muốn một không gian thoải mái, bằng phẳng để có thể viết. Thiết bị này được gắn liền với chỗ ngồi của một người và cho phép họ viết mà không gặp rắc rối khi di chuyển bằng các phương tiện thời đó.

8. Công nghệ chép tay
Mặc dù vận hành không được trơn tru và “mượt” cho lắm, nhưng mẫu thiết kế này thực sự có ích cho những nhà văn, nhà báo hay các cô thư ký thời đó. Chiếc máy rất hữu ích trong việc tạo ra các bản copy khi công nghệ in ấn và photo chưa ra đời. Phát minh này thực sự đã giúp tiết kiệm được rất nhiều thời gian.

9. Xe đạp hình cầu
Phát minh này gồm một quả cầu trong suốt với thanh công cụ hỗ trợ người sử dụng bên trong. Một số người sẽ rất thích mẫu thiết kế này vì cảm giác thú vị khi ngồi trong đó. Tuy nhiên, thực sự thì nó không thoải mái như tưởng tượng một chút nào vì lực phải bỏ ra có khi còn nhiều hơn đi bộ, cũng như nguy cơ va chạm là rất cao.

10. Trang sức điện
Sức sáng tạo của người Anh thời kỳ này thực sự đã đạt đến mức không tưởng, khi họ nghĩ ra được loại trang sức được gắn đèn điện. Và mỗi khi bật sáng, ánh đèn sẽ chiếu qua các viên ngọc hay kim cương. Rõ ràng chúng ta không thể đeo nó lên người trong mọi hoàn cảnh. Tuy nhiên, ý tưởng này vô cùng thú vị và sáng tạo.

(Nguồn: kenh14.vn)


“Không thể quên thù hận đã là ngu xuẩn lắm rồi, nhưng ngu xuẩn hơn nữa nếu chúng ta lại truyền lại sự thù hận cho thế hệ sau để chúng tiếp nối sự thù hận mà chúng ta không thể quên được…” (Trích:  “Ba mươi tháng Tư và tôi”, Giáo sư Trần Chung Ngọc, cựu chiến binh VNCCH, Việt kiều Mỹ).
Những ngày đầu tháng Tư, không khí hân hoan, phấn khởi, chào mừng ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước ngập tràn trong mỗi người dân Việt Nam. Đó là niềm vui chung của cả dân tộc.
Kể từ 30/4/1975 đến nay, song hành cùng niềm vui lớn lao đầy ý nghĩa kỷ niệm chiến thắng thống nhất đất nước, một số người vẫn mang nặng những tư tưởng khác biệt. Một phần, xuất phát từ sự thiếu hiểu biết, một phần từ sự cố hữu, ăn sâu bám rễ vào hệ tư tưởng của chế độ ngụy quyền và ý đồ của đế quốc Mỹ. Cho nên họ gọi tháng Tư là “Tháng Tư đen”, và 30/4 là “ngày quốc hận”… Đó là một cách gọi chất đầy sự thù hằn và không cần thiết.
Lịch sử vốn chân thực như những gì đã điễn ra. Việc trở lại quá khứ để khẳng định tính đúng đắn cho một cách hiểu là cần thiết.
Năm 1958, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và thiết lập nền đô hộ trên 80 năm dòng dã. Hơn 80 năm đó, người dân Việt Nam không khi nào chịu làm kiếp nô lệ, kiên cường vùng lên. Tuy nhiên, tất cả phong trào đấu tranh đều thất bại, cánh cửa của độc lập, chủ quyền vẫn im ỉm đóng. Ngày 3/2/1930, sau nhiều năm kiên trì hoạt động gây dụng phong trào cách mạng theo con đường cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc đã thống nhất các tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo phong trào cách mạng. Sau 15 năm kể từ khi Đảng ra đời, ngày 19/8/1945 cách mạng giải phóng dân tộc thành công trên cả nước. Đánh dấu quá trình làm thuộc địa, nô lệ kết thúc. Việt Nam trở thành một nước độc lập, có chủ quyền. Người dân Việt Nam lấy lại quyền con người của mình.
Tuy nhiên, với dã tâm của kẻ xâm lược, Pháp trở lại xâm lược, 9 năm kháng chiến chống Pháp kéo dân tộc ta vào một cuộc chiến tranh ác liệt. 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải ký Hiệp định Gionever chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Vĩ tuyến 17 tạm chia nước ta thành hai miền. Pháp rút quân, Mỹ nhảy vào, lập nên chế độ tay sai Ngô Đình Diệm, tiếp tục chế độ cai trị hà khắc trên toàn miền Nam, âm mưu thôn tính miền Bắc Việt Nam. Từ 1954 đến 1975, nhân dân hai miền Nam Bắc đoàn kết, đồng lòng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. 30/4/1975, Việt Nam hoàn toàn giải phóng, không tồn tại bất kỳ một sự phân chia, ngăn cách nào giữa hai miền. Chế độ ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ hoàn toàn, đế quốc Mỹ buộc phải từ bỏ sự cai trị và âm mưu đối với Việt Nam. Ngày 30/4/1975 là ngày toàn quân, toàn dân ta đánh đổ ách cai trị, xâm lược của ngoại bang, cụ thể là đế quốc Mỹ và bộ máy ngụy quyền tay sai. Đó là ngày tạc vào lịch sử dân tộc Việt Nam và đi vào lịch sử nhân loại là ngày thống nhất, ngày giải phóng, ngày hòa bình…
Như vậy, mọi thứ vốn tường minh, tỏ bày rõ ràng. Ngày 30/4 chưa và không bao giờ là ngày “quốc hận” và tháng tư chưa và không bao giờ là “tháng Tư đen”. Vì cớ, thống nhất đất nước là yêu cầu khách quan, là tâm nguyện của tất thảy nhân dân Việt Nam. Đánh đuổi sự xâm lược của ngoại bang, giành lại độc lập, chủ quyền, làm chủ đất nước thì không bao giờ là phi nghĩa. Đó là chân lý bất khả phủ bác. Làm sao mà “hận” với “đen” khi đất nước hòa bình, thống nhất, non sông một dải hơn 3000km do người dân Việt Nam làm chủ.
Thời gian trôi qua, quá khứ không bao giờ trở lại. Những luyến tiếc của một số người đang khiến quá khứ kéo lùi hiện tại và cản trở tương lai. Một đất nước hưng thịnh thì sự thống nhất, hòa bình, sự đoàn kết đồng lòng của mọi người dân là yếu tố nền tảng. Lòng hận thù dù xuất phát từ đâu cũng chỉ là sự gieo rắc đau thương, hoài vọng quá ư quá khứ sẽ chỉ chất chứa những u sầu. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước luôn chào mừng những người từng có thành kiến, có hành động lầm lỡ quay trở về, đồng tâm, góp trí tài dựng xây quê hương Việt Nam!
Việt Tân
Trong suốt hơn một thiên niên kỷ qua, quân và dân Việt Nam đã giành được hàng loạt chiến thắng hết sức lẫy lừng trước những kẻ thù hùng mạnh hơn rất nhiều.

1. Đại chiến trên sông Bạch Đằng
Năm 938 đánh dấu sự kiện lịch sử đối với dân tộc Việt Nam khi Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận đại chiến trên cửa sông Bạch Đằng lừng lẫy. Giành lại độc lập cho dân tộc sau hơn 1.000 năm bị phương Bắc đô hộ, trận chiến trên sông Bạch Đằng còn mở ra thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc Việt Nam.
Trước những chiến thuyền hùng mạnh của kẻ thù, Ngô Quyền đã chỉ đạo quân và dân đóng cọc gỗ bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng, nay là một con sông chảy giữa thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh và huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, cách vịnh Hạ Long, cửa Lục khoảng 40 km. Khi nước triều lên, tất cả cọc bị nước nhấn chìm, khiến kẻ địch không thể phát hiện.
Lừa chiến thuyền của kẻ địch tiến vào bãi cọc đúng thời điểm nước triều rút, tất cả chiến thuyền của quân Nam Hán đều bị phá hủy và chìm xuống đáy nước. Chỉ huy quân Nam Hán là Hoàng tử Lưu Hoằng Tháo cùng quá nửa binh sĩ bị giết trong trận đại chiến trên sông Bạch Đằng lịch sử. Không chỉ giúp bảo vệ non sông đất nước, Hải chiến sông Bạch Đằng còn mở ra một thời kỳ độc lập tự chủ cho đất Việt.
2. Trận chiến trên dòng sông Như Nguyệt
Trận Như Nguyệt là trận đánh lớn, diễn ra ở một khúc trên sông Như Nguyệt (hay sông Cầu) vào năm 1077. Là trận đánh quyết định cho cuộc chiến tranh Tống – Việt. Chiến thắng trên sông Như Nguyệt khiến triều Tống của Trung Quốc không dám cất quân xâm lược, buộc phải thừa nhận Đại Việt là một quốc gia độc lập.
Trận chiến trên sông Như Nguyệt do danh tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy. Trước binh lực hùng mạnh của kẻ thù, Lý Thường Kiệt chọn chiến lược phòng thủ. Chọn khu vực phía nam sông Cầu để quyết thủ, Lý Thường Kiệt đã ra lệnh xây dựng phòng tuyến trên sông Như Nguyệt để biến nơi đây thành trận địa quyết định của cả cuộc chiến.
Sau thời gian dài không thể tiến về Thăng Long, kinh đô Đại Việt, quân Tống lâm vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan. Thất bại liên tiếp, nhiều quân sĩ chết vì dịch bệnh cùng việc bị quân của Lý Thường Kiệt toàn lực tấn công, quân Tống buộc phải rút về nước. Chiến thắng của Lý Thường Kiệt được xem là chiến thắng lớn nhất kể từ sau trận Bạch Đằng năm 938 của dân tộc Việt.
3. Ba trận đại chiến chống quân Nguyên Mông
Khi đế chế Mông Cổ lê vó ngựa khắp thế giới, đội quân hùng mạnh của Thành Cát Tư Hãn nhanh chóng thôn tính một diện tích rộng lớn ở châu Á và châu Âu. Cháu nội Thành Cát Tư Hãn là Hốt Tất Liệt đã lập ra triều đại nhà Nguyên ở Trung Quốc. Từ năm 1257 tới 1288, quân Nguyên Mông tổ chức ba đợt tấn công lớn nhằm thôn tính Đại Việt.
Trước 3 lần tấn công của quân Nguyên Mông trong các năm 1257-58, 1284-85 và 1287-88, quân và dân nhà Trần, dưới sự chỉ huy của danh tướng Trần Hưng Đạo, đã liên tiếp đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông, bảo vệ toàn vẹn độc lập chủ quyền của nhà nước Đại Việt. Với chiến thuật “vườn không nhà trống”, quân Nguyên Mông hùng mạnh rơi vào cảnh thiếu lương thực để rồi sau đó bị đẩy lùi nhanh chóng.
Trong trận chiến cuối cùng, quân Nguyên Mông dễ dàng giành chiến thắng khi mới tiến đánh Đại Việt. Tuy nhiên, do không thể lấy được lương thực từ người dân địa phương nên đạo quân lớn nhanh chóng lâm vào tình cảnh đói khát, mệt mỏi. Khi bị phản công, quân Nguyên Mông hoàn toàn không có cơ hội đáp trả. Cánh quân thủy bị tiêu diệt hoàn toàn tại tử địa Bạch Đằng, nơi quân Nam Hán từng bị Ngô Quyền tiêu diệt.
4. Trận Chi Lăng – Xương Giang
LÊ LỢI
Là sự kiện mang tính quyết định trong cuộc chiến chống ách đô hộ của nhà Minh, Trung Quốc, Trận Chi Lăng – Xương Giang, diễn ra từ ngày 8/10 đến ngày 3/11/1427, giúp nghĩa quân Lam Sơn giành chiến thắng quyết định trước kẻ thù, đập tan ách đô hộ của phương Bắc. Với đội quân ban đầu chỉ vài ngàn người, Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn không ngừng lớn mạnh, đập tan ách thống trị của nhà Minh với hàng chục vạn binh sĩ.
Năm 1426, khi quân Lam Sơn vây hãm đạo quân của Vương Thông ở Đông Quan, nhà Minh quyết định phái hai đạo quân lớn sang Việt Nam giải cứu. Với đạo quân viện binh lên tới 20 vạn người, nghĩa quân Lam Sơn liên tiếp tổ chức đánh hạ quân địch. Lần lượt các tướng nhà Minh đều bị tiêu diệt, trong đó có Liễu Thăng, chỉ huy 10 vạn quân.
5. Hải chiến Rạch Gầm – Xoài Mút
Trận chiến lớn trên sông, diễn ra đêm ngày 19 rạng sáng 20/1/1785 giữa quân Tây Sơn và Liên quân Xiêm – Nguyễn. Do xảy ra trên khúc sông Rạch Gầm – Xoài Mút, nay thuộc tỉnh Tiền Giang, nên tên của trận chiến này được gắn liền với nơi xảy ra giao chiến.
Nhận lời cầu cứu của chúa Nguyễn, Nguyễn Ánh, vua Xiêm cử khoảng 2 vạn lính thủy, 3 vạn lính bộ cùng 3.000 – 4.000 quân nhà Nguyễn tới đánh quân Tây Sơn. Trước đội quân vượt trội hơn hẳn về số lượng, Nguyễn Huệ bí mật cho quân và tàu phục kích tại những nơi hiểm yếu trước khi tiến hành khiêu khích để dụ kẻ địch vào trận địa phục kích.
Diễn ra chỉ trong một đêm, quân Tây Sơn đã nhấn chìm 300 chiến thuyền và 2 vạn thủy binh của quân Xiêm cùng một số lượng lớn quân của Chúa Nguyễn, Nguyễn Ánh. Không chỉ bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, Nguyễn Huệ còn đập tan âm mưu mượn tay chúa Nguyễn để xâm chiếm lãnh thổ Đại Việt của vua Xiêm.
6. Trận Ngọc Hồi – Đống Đa
Chỉ 4 năm sau chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, quân Tây Sơn tiếp tục giành được đại thắng trước quân xâm lược nhà Thanh vào miền Bắc Đại Việt. Quân Tây Sơn gây bất ngờ cho địch khi tấn công vào những ngày đầu năm mới, năm Kỷ Dậu 1789.
Sở hữu đội tượng binh, với trên 100 voi chiến, quân Tây Sơn giành đại thắng vang dội ở Đồn Ngọc Hồi, khiến binh địch ồ ạt tháo chạy về Thăng Long. Trên đường rút chạy, quân Thanh bị mai phục, chết nhiều. Đại thắng ở Ngọc Hồi tạo bàn đạp cho quân Tây Sơn tiến thẳng về Thăng Long, buộc chỉ huy giặc là Tôn Sĩ nghị tháo chạy thoát thân.
7. Chiến dịch Điện Biên Phủ
Chiến thắng Điện Biên Phủ là thành quả nhiều năm chuẩn bị của Quân đội nhân dân Việt Nam diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh, nay là thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Đây là chiến thắng lớn và quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định cho chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954 của Việt Nam.
Gắn liền với tên tuổi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã buộc quân Pháp ở pháo đài "bất khả xâm phạm" Điện Biên Phủ phải đầu hàng tháng 5/1954, sau suốt gần 2 tháng nằm dưới tầm đạn pháo của quân đội Việt Nam. Thảm bại ở thung lũng Mường Thanh khiến Pháp và Mỹ buộc phải công nhận hòa bình của Việt Nam.
Trên phương diện quốc tế, chiến dịch Điện Biên Phủ của quân và dân Việt Nam đã đi vào lịch sử nhân loại bởi đây là lần đầu tiên quân đội của một nước từng là thuộc địa ở châu Á đánh bại đội quân hiện đại và tối tân của một cường quốc châu Âu, được hỗ trợ của đồng minh Mỹ. Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ đập tan tham vọng duy trì thuộc địa ở Đông Dương của Pháp mà còn tạo bàn đạp cho các nước thuộc địa Pháp ở châu Phi vùng lên giành độc lập.
8. Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, quân và dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, khiến cả thế giới phải cúi mình thán phục. Nhằm ép đoàn Việt Nam vào thế bất lợi trên bàn đàm phán, Mỹ đã dùng máy bay B-52 ồ ạt ném bom thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn ở miền Bắc Việt Nam.
Tuy nhiên, những cuộc tập kích ồ ạt, táo bạo của Mỹ đã gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ của quân và dân Việt Nam, với kết cục không thể bi thảm hơn cho người Mỹ. Được mệnh danh là pháo đài bay “bất khả xâm phạm” nhưng bầu trời miền Bắc Việt Nam là tử địa với B-52 của Mỹ. Trong 12 ngày đêm ồ ạt tấn công, trên 80 máy bay Mỹ, trong đó có hơn 30 pháo đài bay B-52 đã bị bắn hạ, hàng trăm phi công chết hoặc bị bắt làm tù binh.
Gây bất ngờ lớn cho thế giới sau chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, chiến thắng rền vang trên bầu trời Hà Nội những ngày tháng 12 năm 1972 tiếp tục khiến thế giới bội phần thán phục tinh thần chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của quân và dân Việt Nam, tạo lợi thế lớn cho phái đoàn đàm phán của ta ở Paris, Pháp. Tính tới thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn là quốc gia đầu tiên và duy nhất bắn hạ các pháo đài bay B-52 của Mỹ, dù chúng đã và đang được Washington tin dùng.
9. Chiến dịch Hồ Chí Minh
Là chiến dịch cuối cùng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi hoàn toàn, dẫn tới sự chấm dứt 21 năm chia cắt hai miền Nam – Bắc, đưa non sông nối liền một dải.
Diễn ra từ ngày 26/4 và kéo dài tới ngày 2/5/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch lớn nhất, ngắn nhất và cũng là chiến dịch cuối cùng trong chiến tranh tại Việt Nam. Giống với chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử cũng do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam chỉ huy.
Với sự tham gia của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng miền Nam, chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc với sự tan rã hoàn toàn của Ngụy quyền Sài Gòn, mang lại sự thống nhất, độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ trên đất liền, vùng trời, vùng biển của Việt Nam sau hơn 100 năm bị nước ngoài chiếm đóng và chia cắt.
(Trịnh Duy, baomoi.com)
Flag Counter

Sự Thật và Dối Trá

Sự Thật và Dối Trá

XEM NHIỀU

bunhinrom007@gmail.com. Được tạo bởi Blogger.

Lượt Xem