Vẫn chiêu bài xuyên tạc, vu cáo từ thời cổ xưa nhằm vào tổ chức Đảng, Nhà nước, lãnh tụ, công an… nay, RFA cùng bè lũ mõ điên cuồng quay ra vu cáo cá nhân công dân Việt Nam. Mới đây là trường hợp công dân Trần Nhật Quang bị bọn “chim lợn” quốc nội móc nối với RFA hải ngoại đưa vào “tầm ngắm” và “nã đạn” chỉ vì những hành động của một công dân chân chính, bất bình vạch mặt các trò bịp bợm của bọn NO-U, “dân oan”, “hội tù nhân lương tâm”… tụ hợp gây rối trật tự công cộng.  Cụ thể, ngày 19/2/2014, Đài RFA Việt ngữ đăng bài báo "Ông Trần Nhật Quang chửi ai ?" của tác giả có bút danh là "Cánh Cò" xuyên tạc, vu cáo, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của ông Trần Nhật Quang. Công dân Việt Nam Trần Nhật Quang là một nạn nhân của hoạt động phạm tội do ban Việt ngữ RFA thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Chẳng biết “Cánh cò” hay “Cánh vạc”, “Cánh diều hâu” nào sau cái bút danh ấy, nhưng cách đặt tựa đề “chửi ai” của Cò hẳn là đầy thiển ý. Đọc lá thư ông Trần Nhật Quang gửi cho Bà Libby Liu, Tổng Giám đốc Đài RFA tại 2025 M Street NW, Suite 300, Washinton DC 20036, USA, mọi người sẽ đồng cảm, sẻ chia với ông Trần Nhật Quang về những hành vi phạm tội của RFA:
“Tôi hoàn toàn bác bỏ những bịa đặt và vu khống nêu trên, vì những lý do sau đây:
1. Tôi không phải là dư luận viên, việc viết tôi là “trùm dư luận viên” là hoàn toàn vô căn cứ, bịa đặt và vu khống.
2. Tại thời điểm và địa điểm nêu trong bài viết, tôi không hề uống rượu, việc mô tả tình trạng say rượu ở tôi là bịa đặt và vu khống trắng trợn.
3. Tôi hành động từ lòng căm phẫn những kẻ lợi dụng sự hy sinh của các Liệt sĩ làm công cụ chống phá đường lối ngoại giao và quốc phòng của Đảng và Nhà nước Việt Nam, là đường lối mà bản thân tôi cùng gia đình, họ hàng, bạn bè quen biết tôi, đều tin tưởng và ủng hộ. Vì vậy nhận định của bài viết rằng, Đảng “mớm” lời, Đảng “cho đàn em như ông Trần Nhật Quang chửi…” là hoàn toàn vô căn cứ và bịa đặt trắng trợn.
4. Tôi không hề có “thuộc hạ” nào và tôi không “lớn tiếng sai thuộc hạ quay video clip để post lên mạng”. Sự thật là tôi đã nói những lời thách thức với những kẻ đã xúm vào tôi để quay phim, chụp ảnh. Vì vậy bài viết đã bịa đặt và vu khống trắng trợn.
5. Tôi chưa bao giờ và không bao giờ chửi Đảng như bài viết xuyên tạc, bóp méo.

6. Bên cạnh đó, tôi rất phẫn nộ trước những suy diễn, sự xuyên tạc về Đảng và Nhà nước Việt Nam trong bài đăng nói trên, mà tôi không phải là chủ thể, nên tôi không thể thay mặt các chủ thể để bác bỏ trong thư này theo ý muốn của mình. Với những lý do nêu trên, tôi cực lực bác bỏ những nội dung bịa đặt vô căn cứ xúc phạm sự thật và xúc phạm danh dự cá nhân tôi của bài đăng "Ông Trần Nhật Quang chửi ai ?" đăng trên RFA.”
ÔNG TRẦN NHẬT QUANG
       Tất cả công dân Việt Nam yêu nước chân chính tại quốc nội và đồng bào người Việt tại hải ngoại đồng lòng với ông Trần Nhật Quang:
“Tôi bày tỏ sự bất bình với RFA đã cố tình đồng lõa, tiếp tay cho sự bịa đặt, vu khống cá nhân tôi vì những lý do sau đây:
1. Trước khi bài "Ông Trần Nhật Quang chửi ai ?" được đăng trên RFA, tất cả các bài đăng (Statuss), bình luận (comments), clips...trên các diễn đàn facebook, youtube, blogs...về tôi, tất cả các tin nhắn (inbox) đến tôi, cả từ hai phía chỉ trích - chửi bới - đe dọa và ủng hộ, đều không có từ khóa nào là "say" hay "rượu".
2. RFA có nhiều cộng tác viên trong nước Việt Nam, nắm bắt rất nhanh nhạy và đa dạng, nhiều chiều về các sự kiện, thông tin báo chí, thông tin internet, thông tin blog...ở Việt Nam. Trong thực tiễn, RFA đã từng đăng tải bài viết, ảnh, clip...ngay trong khi các sự kiện trong nước Việt Nam đang diễn ra, đặc biệt các sự kiện biểu tình "chống" Trung Quốc, "dân oan", bắt giữ các tội phạm chính trị. Với các lý do nêu trên, RFA không thể chối cãi không biết sự thật trước khi đăng bài "Ông Trần Nhật Quang chửi ai ?" ngày 19/2/2014, tức 3 ngày sau khi sự kiện diễn ra.
Với 2 lý do vừa nêu trên, tôi cực lực phản đối RFA đã đăng tải bài báo "Ông Trần Nhật Quang chửi ai ?". Việc làm này của đài RFA đã xúc phạm nghiêm trọng tới danh dự và gây ra nhiều thiệt hại cả về thể chất, tinh thần của tôi. Hành động này không chỉ đi ngược với “Quy tắc đạo đức nghề nghiệp” được chính RFA đưa ra là “phổ biến tin tức chính xác, trung thực và hữu ích, không tuyên truyền, không bè phái, không đả phá một chính phủ, cá nhân hay bất kỳ quốc gia nào”, mà còn là minh chứng rõ ràng về sự xâm phạm nhân quyền. Việc làm này không chỉ vi phạm pháp luật Hoa Kỳ (Tội phỉ báng) mà còn vi phạm các văn bản luật - chuẩn mực pháp lý chung, cơ bản của quốc tế về quyền công dân.
Từ hai luận điểm nêu trên, thông qua thư này, tôi yêu cầu Quý Đài RFA:
1. Gỡ bỏ bài đăng "Ông Trần Nhật Quang chửi ai ?" ngày 19/2/2014.
2. Đăng thư cải chính và lời xin lỗi tôi với số chữ tối thiểu dài bằng bài báo “Trần Nhật Quang chửi ai” để khôi phục lại danh dự cho người bị hại là công dân Việt Nam Trần Nhật Quang.
Tôi kiên nhẫn chờ đợi sự đáp ứng của Quý Đài RFA trong 30 ngày, kể từ ngày thư này được tôi gửi đến Quý Đài theo địa chỉ vietweb@rfa.org. Nếu yêu cầu này không được đáp ứng tôi sẽ gửi đơn kiện về “Tội phỉ báng” đến Tòa án sở tại của Hoa Kỳ.”
Sự cương quyết, chính trực của ông Trần Nhật Quang là đúng đắn, phù hợp với các giá trị đạo đức và pháp lý của xã hội. Hành động lên tiếng của ông trước cách hành xử thô bạo của RFA không chỉ là tiếng nói của một công dân bất bình trước những hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bản thân, mà đó còn là bản án kết tội bộ sậu RFA cùng bè lũ tay sai NO-U, “dân oan” ngày ngày xuyên tạc, vu cáo Tổ quốc và nhân dân Việt Nam. Hi vọng rằng, nền dân chủ và các giá trị pháp lý của Chính quyền Hoa Kỳ sẽ quan tâm, phân xử công minh vụ việc vu cáo của RFA đối với công dân Việt Nam. Những nội hàm của “nhân quyền kiểu Mỹ” chắc hẳn không dung túng, đồng lõa cho các hành vi xúc phạm một con người, dù người đó không sống trên đất của Hoa Kỳ!
                      Đa Nhĩ Cổn
Ông Trần Nhật Quang
  Yêu nước, người Việt Nam nào chẳng yêu nước, vì đó là truyền thống, là đạo nghĩa của con dân với Tổ quốc. Từ xưa đến nay, trải qua nhiều thăm trầm, biến cố của lịch sử, lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam được thể hiện bằng những hành động cụ thể trong hai từ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Giặc ngoại xâm tràn vào, xâm lăng bờ cõi, thời nào cũng vậy, những anh hùng tuấn kiện đều cầm vũ khí, đoàn kết toàn dân giữ gìn từng tấc đất quê hương. Nay đất nước hòa bình, thống nhất, tất cả mọi người dân từ miền ngược tới miền xuôi, từ vùng biển tới đồng bằng đang hàng ngày, hàng giờ lao động, học tập để dựng xây đất nước, củng cố nền độc lập, giữ vững chủ quyền lãnh thổ. Đó là sự tiếp nối và thể hiện chân thực, sinh động về lòng yêu nước. Lòng yêu nước của mỗi con dân đất Việt không cần phô trương, hoa mĩ, nó bình dị, sâu lắng.

Nay, một số kẻ vì nhiều lý do, động cơ thôi thúc, đang có những lời nói, hành động đi ngược lại với truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam. Họ tụ họp nhau trong nhóm lưu vong người Việt chống Đảng, Nhà nước, Tổ quốc Việt Nam; một số kẻ trong nước câu kết với bên ngoài thường xuyên tụ tập gây rối an ninh trật tự. Tất cả họ, theo chân ngoại bang để chống phá, cản trở sự phát triển của dân tộc. Mỗi khi tụ tập, họ mang cờ tổ quốc và gào thét những khẩu hiệu hết sức mị dân. Nào là, “chống hiểm họa bắc triều”, “đả đảo Trung Quốc xâm lược”, “Tổ quốc lâm nguy xin đừng vô cảm”… Xét về mặt câu chữ, tưởng như là tốt, là nhân văn, là yêu nước. Thế nhưng, đặt trong bối cảnh, tìm hiểu động cơ, mục đích, đi đến tường minh của sự việc thì hoàn toàn ngược lại. Họ mượn cớ, mượn danh “yêu nước” (mà chẳng biết họ yêu nước nào?) để lừa bịp, lôi kéo những người nhẹ dạ, cả tin, cùng với họ làm những trò bậy bạ để gây rối, phá hoại nền hòa bình, sự đoàn kết toàn dân. Chính nhóm người đó, mà hiện thân là những kẻ mặc áo “NO – U”, họ chẳng làm được gì cho Tổ quốc, mà chỉ gào thét, cản trở giao thông, làm xấu đi hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam.
           Đặt giả thiết rằng, họ “yêu nước”, yêu bằng cách nào? Trong khi đất nước gặp họa ngoại xâm, họ đi đâu? Họ làm gì? Mà nay, khi hòa bình họ lại đánh cắp lịch sử để mang ra phán xét. Sao họ không góp hòn đá để xây Trường Sa? Sao họ không tham gia lao động, sản xuất tạo ra của cải góp phần xây dựng nước nhà hùng mạnh? Họ không làm vậy, bởi họ đâu yêu nước Việt Nam. Những việc làm đó của họ thực chất là đang bán nước, đang câu kết với ngoại bang để xâm lược nền hòa bình trên quê hương Việt Nam.

            Họ đứng dưới chân tượng đài Lý Thái Tổ để giăng đầy những khẩu hiệu sáo rỗng, vô tích sự hòng thực hiện cho kỳ được cái ý đồ bại não của họ. Họ với tư cách gì để nhân danh lịch sử mà phát ngôn?
            Trước những hành động bán nước của nhóm NO – U, công dân Trần Nhật Quang đã phản kháng mạnh mẽ, vạch trần bộ mặt giả nhân, giả nghĩa, giả yêu nước của chúng và bè lũ. Để đến mức, con Mõ RFA phải xuyên tạc, vu cáo về ông Trần Nhật Quang trên website RFA với bài viết đầy chất tội phạm: “Trần Nhật Quang chửi ai?”. Bè lũ RFA, nói xấu, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam chưa đủ, nay quay ra vu khống công dân Việt Nam yêu nước chân chính. Ông Trần Nhật Quang vô cùng bức xúc, ông viết thư gửi Giám đốc RFA: “Tôi hành động từ lòng căm phẫn những kẻ lợi dụng sự hy sinh của các Liệt sĩ làm công cụ chống phá đường lối ngoại giao và quốc phòng của Đảng và Nhà nước Việt Nam, là đường lối mà bản thân tôi cùng gia đình, họ hàng, bạn bè quen biết tôi, đều tin tưởng và ủng hộ. Vì vậy nhận định của bài viết rằng, Đảng “mớm” lời, Đảng “cho đàn em như ông Trần Nhật Quang chửi…” là hoàn toàn vô căn cứ và bịa đặt trắng trợn.”
            Như vậy đó, đâu là yêu nước và đâu là mượn chữ “yêu nước” hòng bán nước? NO-U là một bè lũ vô công, rảnh việc, theo chân ngoại bang âm mưu chống phá hòa bình, chủ quyền của nhân dân Việt Nam.
Trần Quang Bình

Nên duyên vợ chồng bởi họ “cảm” nhau và cùng một chí hướng trong nghề. Họ là những bác sĩ trẻ vùng cao hết lòng vì người bệnh, nỗ lực xoá đi những hủ tục lạc hậu ăn sâu trong đồng bào. Đó là cặp vợ chồng bác sĩ Huỳnh Thanh Vũ và Mai Thị Anh ở xã Ba Vì, huyện Ba Tơ.

Công tác tại Trạm y tế xã Ba Xa (Ba Tơ), anh Vũ được mệnh danh là “khắc tinh của thầy mo” ở vùng cao này. Bởi mỗi khi nghe người bệnh không chịu đến cơ sở y tế để điều trị mà ở nhà cúng bái là bác sĩ Vũ tìm đến nhà động viên đưa đi khám. Bác sĩ Vũ nhớ lại: Cách đây 3 năm, một bệnh nhân nam 45 tuổi bị đau thận. Lúc đó, anh đi với Chủ tịch UBND xã Phạm Văn Ố đến vận động thì đến đầu ngõ bị chặn, họ không cho ai vào. Biết sự việc không tốt, anh Vũ trao đổi với đồng chí Chủ tịch rồi quyết định phá rào để vào nhà. Lúc này, thầy mo đang cúng nhưng anh vẫn tiến hành khám và chẩn đoán bệnh, đưa thuốc cho bệnh nhân uống. Sau đó bệnh nhân bớt đau, ngồi dậy uống rượu như thường. Cùng lúc này, ông thầy mo âm thầm thu dọn đồ ra về với vẻ mặt đầy căm giận chàng bác sĩ trẻ này.
Bác sĩ Vũ tới tận nhà khám bệnh cho bệnh nhân Phạm Văn Mo ở thôn Mang Cà Rá bị mù không đi tới Trạm y tế xã được.
Từ đó, mọi người trong làng càng tin tưởng vào bác sĩ Vũ. Nhiều người còn tự nguyện làm giám sát viên, khi thấy người dân cúng bái mỗi khi bị bệnh liền lén lên trạm báo với anh để xuống can thiệp giúp. Với sự tin tưởng và giúp đỡ của dân làng, anh Vũ không ít lần cứu sống nhiều ca trẻ em bị sốt, sản phụ suy nhược sau sinh, sốt rét… Một lần nọ, có bệnh nhân trong xã bị tăng huyết áp, tay chân miệng co cứng, nhưng người nhà vẫn tin vào thầy cúng. Lúc ấy, cùng với sự hỗ trợ của một số thanh niên, anh Vũ mạnh dạn xông vào nói lớn: “Nếu không khám, chữa bệnh, bệnh nhân sẽ chết đấy!”. Lời nói rắn rỏi của anh khiến ông thầy cúng không thể tiếp tục làm trò lừa bịp dân làng. Sau khi cho dùng thuốc, bệnh nhân dần tỉnh và được đưa xuống trạm điều trị và khoẻ mạnh ngay sau đó. Thế là dân làng kháo nhau: “Có bác sĩ Vũ chữa bệnh rồi, mình không tin thầy cúng nữa đâu”!
Những ngày mới lên nhận công tác trưởng trạm y tế xã, bác sĩ Vũ không ngần ngại trở thành “trạm y tế di động”, “cõng” thuốc men và túi dụng cụ y tế trên vai đến từng nhà dân trong bản để chữa bệnh cứu người. Nhưng rồi, ngày ấy dân bản vẫn đặt thầy mo trên bác sĩ một bậc. Điều đó khiến anh Vũ ngày đêm trăn trở, vì không thể để người dân mãi tin vào những hủ tục lạc hậu đó. Thế là, anh Vũ kiên trì bám dân để tuyên truyền vận động, mặc dù có không ít lần bị xua đuổi. Và sau hàng chục lần đưa người bệnh thoát khỏi cái chết vì bệnh tật, người dân ở vùng cao này đã dành mọi sự  yêu thương, quý trọng cho anh. “Người bác sĩ ở vùng cao này làm được những điều đó là quá hạnh phúc rồi”, anh Vũ tâm sự.
Quê ở xã Ba Động, tuổi thơ của Vũ chứng kiến nhiều trường hợp người dân chết vì không được cứu chữa kịp thời. Nuôi ước mơ làm bác sĩ, tốt nghiệp cấp 3 anh theo học tại Trường trung cấp Y tế Quảng Ngãi. Sau khi ra trường, anh về công tác tại Trạm Y tế xã Ba Xa, sau đó anh được cử đi học bác sĩ tại Trường ĐH Y Dược Huế. Đến nay, anh đã có thâm niên 13 năm cắm bản. Và anh cũng đã tìm được một nửa còn lại của đời mình là bác sĩ Mai Thị Anh - Trưởng Trạm Y tế xã Ba Vì. Hằng tuần, anh dành 1 ngày ngược rừng về công tác tại Phòng khám Đa khoa khu vực tại xã Ba Vì theo diện luân phiên, vì phòng khám trên chưa có bác sĩ. Dù vất vả nhưng anh luôn nở nụ cười trên môi khiến nỗi đau bệnh tật của người dân vùng cao này đã vơi đi phần nào.
Giỏi việc công, khó việc nhà
Không kém cạnh chồng, bác sĩ Mai Thị Anh- Trưởng trạm y tế xã Ba Vì cũng được mệnh danh là bác sĩ “mát tay”, với thành tích đỡ đẻ nhiều ca khó. Đảm đương trọng trách Trưởng Trạm y tế xã, chị bận rộn như chăm con mọn. Trừ những bệnh nhân nặng, chứ những trường hợp xử lý được chị đều nỗ lực chăm sóc, điều trị tại trạm. Chị tâm niệm: “Nếu bệnh nhân nặng nhẹ đều chuyển lên tuyến trên thì sinh ra Trạm y tế xã để làm gì? Vả lại, ai cũng làm thế thì bệnh viện huyện quá tải mất thôi”.
Chị Anh không chỉ giỏi chuyên môn mà còn giỏi trong công tác tuyên truyền vận động. Đơn cử như chuyện khám thai định kỳ, tưởng là đơn giản nhưng với phụ nữ vùng cao là cuộc vận động tốn nhiều thời gian và công sức nhất. Đến vận động chị em đi siêu âm, khám thai nhiều bà mẹ ngăn cản. “Ngày xưa đẻ 7 - 8 đứa tao có cần khám xét gì đâu, sao cứ đến bắt con gái tao ra trạm khám hoài vậy?”. Nhưng rồi chị cùng cán bộ y tế của trạm vẫn  miệt mài đi gõ cửa từng nhà vận động, thuyết phục thay đổi suy nghĩ của bà con. Mưa dầm thấm lâu, đến nay, chị em phụ nữ trong xã đã hạn chế tình trạng đẻ tại nhà, thường xuyên đến trạm để khám thai định kỳ. Mới đây chị đã tiên lượng kịp thời, hỗ trợ chuyển lên tuyến trên thành công cho sản phụ sinh khó phải mổ.
Quê ở xã Sơn Thủy (Sơn Hà), nhưng bác sĩ Anh đã cùng chồng bén duyên với vùng đất khó này. Hạnh phúc ngọt ngào của vợ chồng chị là có hai đứa con gái dễ thương. Chị bảo: Công việc ở cơ quan bận rộn là thế mà mình không thấy khó, thấy khổ, nhưng hễ về nhà là mình thấy khó. Khó là vì mình không chu toàn chăm sóc con cái, phải cậy nhờ bà ngoại trông giúp. Đứa con gái thứ hai của chị nay đã được 9 tháng, nhiều lúc trực ở trạm, chồng lại công tác ở Trạm y tế Ba Xa nên chị bồng con vào trạm để tiện chăm sóc.
Ngoài giờ làm việc ở Trạm y tế xã, vợ chồng chị còn khám miễn phí cho dân bản tại nhà riêng. “Đã là bệnh thì làm sao chọn lúc đau vào giờ hành chính được. Mình bỏ chút ít thời gian, công sức để chữa bệnh ngoài giờ cho dân bản vậy. Nghiệp thầy thuốc là vậy mà!”, chị Anh bộc bạch. Nhà gần phòng khám khu vực nên nhiều lúc đang nửa đêm, có ca bệnh đột xuất vợ chồng chị lại chạy sang phòng khám để hỗ trợ nhân viên y tế cấp cứu người bệnh. “Người dân đã có ý thức rất cao trong việc đến trạm y tế chữa bệnh. Thậm chí, mấy ông thầy mo cũng gạt lòng sĩ diện sang một bên để đến bệnh viện khi đau ốm rồi đấy. Mình hạnh phúc lắm”, chị Anh nhìn chồng rồi chia sẻ trong niềm hạnh phúc!
Những công việc thầm lặng như “con ong chăm chỉ” dâng mật cho đời của vợ chồng bác sĩ vùng cao Huỳnh Thanh Vũ- Mai Thị Anh là hình ảnh đẹp của người cán bộ y tế cơ sở. Họ là những người gần dân, bám dân nhất, với cái tâm giàu y đức luôn tỏa sáng nơi vùng cao.

(Theo Baoquanngai.vn)
Cho đến nay, khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhà cầm quyền Mỹ dường như chưa từ bỏ ý đồ áp trị đối với nhân dân Việt Nam. Hàng năm, những cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền vẫn được Quốc hội Mỹ nghị sự, thông qua những dự luật nhân quyền hết sức vu cáo, xuyên tạc sự thật và không hề khách quan. Một sự kiện trong 21 năm chiến tranh Việt Nam mà chính phủ Mỹ né tránh, làm ngơ cho cách hiểu về “nhân quyền kiểu Mỹ” đó là cuộc “Thảm sát Mỹ Lai 1968”. Trở lại lịch sử để hiểu rõ bản chất “nhân quyền kiểu Mỹ” như thế nào.
Thảm sát Mỹ Lai hay thảm sát Sơn Mỹ là một tội ác chiến tranh của Lục quân Hoa Kỳ gây ra trong thời gian Chiến tranh Việt Nam. Vào ngày 16 tháng 3 năm 1968 tại khu vực thôn Mỹ Lai thuộc làng Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, các đơn vị lính Lục quân Hoa Kỳ đã thảm sát hàng loạt 504 dân thường không có vũ khí, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Trước khi bị sát hại, nhiều người trong số các nạn nhân còn bị cưỡng bức, quấy rối, tra tấn, đánh đập hoặc cắt xẻo các bộ phận trên cơ thể. Vụ việc đã bị che giấu cho tới cuối năm 1969 và ngoại trừ một chỉ huy cấp trung đội thì không có bất cứ sĩ quan hay binh lính Hoa Kỳ nào bị kết tội sau vụ thảm sát này.
Hình ảnh vụ thảm sát Mỹ Lai, Quảng Ngãi, Việt Nam 1968
Trong tiếng Anh, vụ thảm sát này có tên My Lai Massacre, Son My Massacre hoặc Pinkville, trong đó Pinkville là tên địa danh của quân đội Hoa Kỳ đặt cho khu vực Mỹ Lai. Sự kiện thảm khốc này đã gây sốc cho dư luận Mỹ, Việt Nam, và thế giới, hâm nóng phong trào phản chiến và là một trong các nguyên nhân dẫn tới sự triệt thoái của quân đội Hoa Kỳ khỏi Việt Nam năm 1972.
Chuẩn úy Hugh Thompson
Sự giải cứu những người còn sống sót của người lĩnh Mỹ Thompson.
Chuẩn úy Hugh Thompson, Jr., phi công trực thăng 24 tuổi thuộc đơn vị trinh sát trên không, ngay khi bay qua làng đã chứng kiến cảnh tượng khủng khiếp: Vô số xác người chết, tất cả đều chỉ là trẻ con, phụ nữ và người già, không hề có dấu hiệu của người thuộc độ tuổi tòng quân hay vũ khí ở bất cứ đâu. Đội bay của Thompson tận mắt nhìn thấy đại úy Medina đá và bắn thẳng vào đầu một phụ nữ không có vũ khí (Medina sau này tuyên bố người phụ nữ có mang một quả lựu đạn). Sau khi chứng kiến những cảnh kinh hoàng này, đội bay Thompson cố gắng thực hiện các cuộc điện đàm để cứu những người bị thương. Chiếc trực thăng của họ hạ cánh xuống một cái mương đầy xác người, trong đó vẫn còn người cử động. Thompson đề nghị một sĩ quan cứu người đó ra khỏi cái mương, viên sĩ quan này trả lời anh ta sẽ "giúp họ thoát khỏi nỗi khốn khổ". Cho rằng đây là một câu đùa, chiếc trực thăng của Thompson cất cánh, ngay lúc đó một người của phi đội thốt lên "Chúa ơi, anh ta đang xả súng vào cái mương".
Thompson sau đó nhìn thấy một nhóm dân thường (lại chỉ bao gồm phụ nữ, trẻ em và người già) trong một căn hầm tạm đang bị lính Mỹ tiếp cận. Chiếc trực thăng của phi đội Thompson hạ cánh và cứu được khoảng từ 12 đến 16 người trong căn hầm. Phi đội Thompson sau đó còn cứu được một đứa bé toàn thân đầy máu nhưng vẫn sống sót từ trong cái mương đầy xác người. Thompson sau đó đã báo cáo lại những gì anh nhìn thấy cho chỉ huy của mình, thiếu tá Watke, trong báo cáo Thompson đã dùng những cụm từ như "murder" (giết người) và "needless and unnecessary killings" (sát hại vô cớ và không cần thiết). Báo cáo của Thompson được các phi công và phi đội khác xác nhận.
Năm 1998 tại thủ đô Washington D.C., ba cựu sĩ quan thuộc phi đội Thompson gồm chỉ huy phi đội Glenn Andreotta, phi công Hugh Thompson và xạ thủ Lawrence Colburn đã được trao tặng Soldier's Medal (Huy chương Chiến sĩ) vì hành động ngăn cản đồng đội giết dân thường.

Trích nguồn: Wikipedia


Năm 2013 qua đi để lại nhiều dư chấn, trong đó Edward Snowden như một trận sao băng bay qua bầu trời “nhân quyền kiểu Mỹ”. Cả thế giới ngỡ ngàng, người dân Mỹ bàng hoàng, đồng minh Mỹ bất ngờ trước những hành động lặng lẽ, ngấm ngầm, lâu dài xâm phạm quyền dân sự của công dân (một nội dung của quan trọng của nhân quyền) mà chính phủ Mỹ thực hiện thông qua cơ quan tình báo trung ương Mỹ CIA. Hành động quả cảm, nhân văn của Snowden (cựu nhân viên CIA) như tiếng chuông ngân vang cảnh báo về tình trạng vi phạm nhân quyền của Mỹ.
Kể từ khi cơ quan tình báo Mỹ ra đời cho đến nay, mọi hoạt động của cơ quan này đều phục vụ cho ý đồ của chính phủ Mỹ. Những kế hoạch, âm mưu đen tối, tội ác với nhân loại do Mỹ gây ra thật khủng khiếp, các hé lộ dư luận biết đến chỉ là một phần nhỏ nhoi trong cái thâm cung bí ẩn của CIA và chính phủ Mỹ. Trước Snowden, thế giới được biết đến những sự thật được tiết lộ từ các nhân viên tình báo khác từng phục vụ tại CIA như Vichto Masetti và Gion Mac - nhân viên cục tình báo và nghiên cứu thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ với cuốn sách “CIA và bệnh sùng bái tình báo” hay “Cuộc tháo chạy tán loạn” của cựu nhân viên CIA Phrenco Xnep, và “Sự lừa dối kinh khủng” của Rap Macghi…
Từ Snowden của 2013, trở lại lịch sử những năm 1952-1977, đó là thời kỳ Rap Macghi - hoạt động tại cục tình báo trung ương Mỹ CIA. Đối chiếu quá khứ và hiện tại, để củng cố thêm luận điểm cho thấy tính tài phiệt, phi nghĩa, vô nhân đạo của CIA.
Sau 25 năm hoạt động trong CIA, Rap Macghi nhận thấy “CIA đã lừa dối dân chúng và Quốc hội Mỹ về tình hình châu Á”. Ông đã phản kháng ngay trong nội bộ CIA và khi sự phản kháng này càng mạnh mẽ (vì ông “ngày càng nhận thức rõ ràng đã có một sự lừa dối kinh khủng”) thì những người cầm đầu CIA càng thù ghét ông. Cuối cùng, Macghi phải “quyết định rời bỏ CIA và viết một cuốn sách để báo động cho nhân dân Mỹ”. Rap Macghi viết: “Tôi đã làm việc cho CIA ở Việt Nam, và cũng như tất cả các cựu chiến binh Mỹ trong cuộc xung đột quân sự này, tôi còn giữ lại những vết thương, ít nhất là về tinh thần. Sự căm phẫn của tôi tới mức chỉ bằng cách phanh phui sự thật mới có thể giúp tôi chữa lành những vết thương đó”.
Trong 13 chương của cuốn sách “Sự lừa đối kinh khủng” xuất bản năm 1983, Macghi đã phanh phui toàn bộ hoạt động lừa dối của CIA mà ông chứng kiến, suốt từ khi đặt chân vào CIA cho đến khi rời bỏ nó. Trong lời nói đầu cuốn sách, Macghi cho biết rằng trong thời gian làm việc ở Sài Gòn, có lúc vì quá phẫn uất trước những việc làm bẩn thỉu của CIa, tác giả đã toan tự sát. Nhưng sau đó, ông xác định: “Việc tôi sự sát sẽ chẳng thay đổi được gì cả. Tôi phải sống để kể lại cho mọi người biết tất cả những gì mà tôi đã được biết (về CIA). Đó là nghĩa vụ của tôi đối với nhân dân Mỹ cũng như đối với nhân dân Việt Nam, và trước hết là đối với chính lương tâm mình.
Thảm sát Mỹ Lai, Quảng Ngãi 1968 
Xin trích đoạn tự bạch của tác giả Rap Macghi - cựu nhân viên tình báo trung ương Mỹ CIA:
“Tôi nhớ lại cái đêm tôi xuýt nữa tự sát để phản đối những tội ác dã man của CIA ở Việt Nam. Trước mắt tôi hiện lên những trại tị nạn mà tôi đã bắt gặp ở khắp mọi nơi, trong đó có đầy những cụ già và những em nhỏ mang trên mình các vết thương khủng khiếp. Máy bay Mỹ đã giội bom xuống xóm làng của họ, phá hủy nhà cửa của họ, để rồi bây giờ họ phải chui rúc trong những túp lều thảm hại. Tôi lại nhớ đến những khuôn mặt trẻ em méo xệch đi vì hãi hùng và đau đớn, nhớ lại mùi khét lẹt của thịt người bị bom napan đốt cháy. Bằng thông tin giả dối của mình và bằng các hoạt động phá hoại của mình, CIA đã góp phần vào việc thực hiện những tội ác đó và những tội ác khác….
Tôi sung sướng vì sắp được về nhà. Đồng thời, tôi nhận thấy rằng tôi chẳng bao giờ còn là tôi khi xưa nữa. Những ước mơ giúp đỡ mọi người của tôi, những khái niệm của tôi về ngành tình báo phải ra sao, sự tôn trọng đối với công việc của tôi, tất cả những gì đem lại niềm vui cho tôi trong cuộc đời, những khái niệm của tôi về danh dự, lòng trung thực, sự tin cậy và tình yêu, tức là tất cả những gì mà tôi đã từng tin và từng lấy đó làm lẽ sống - tất cả những cái đó đã bị Việt Nam làm cho tiêu tan. Những vụ giết người mà CIA gây ra ở Việt Nam và sự mù quáng của CIA đã đầu độc mọi niềm vui trong cuộc sống của tôi, đã làm què quặt tâm hồn tôi. Lòng đầy phẫn nộ và căm thù, tôi hãi hùng nghĩ đến những gì đang chờ đón tôi truong tương lai. Tôi cảm thấy tương lai chỉ báo trước điều dữ và không có lối thoát…”
Trong suốt thời kỳ chiến tranh xâm lược Việt Nam do Mỹ tiến hành (1954-1975), tội ác của chính phủ Mỹ và đồng minh cùng bộ máy ngụy quyền thật tàn khốc. Những đau thương đối với người dân Việt Nam không thể diễn tả bằng lời, và ngay cả những người lính Mỹ, những sĩ quan CIA như Rap Macghi cũng mang trong mình sự tổn thương không thể xóa nhòa. Nếu chính phủ Mỹ tôn trọng quyền con người, nhân quyền được nhận thức và thực hiện một cách nghiêm túc, trách nhiệm thì có lẽ Mỹ đã không dùng đô là, súng đạn để xâm lược, tấn công, áp trị quốc gia khác. Hiện nay Quốc hội Mỹ, các tổ chức phi chính phủ trên lĩnh vực nhân quyền do Mỹ giật dây liên tục có những phát ngôn, báo cáo thiếu khách quan, thậm chí vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Nhân quyền chỉ có thể phát triển toàn diện trên một đất nước có chủ quyền, một nền chính trị hòa bình ổn định. Do vậy, mọi mưu toan tài trợ về vật chất, tinh thần cho nhóm những kẻ lưu vong chống phá nhà nước Việt Nam đều là sự tiếp tay trực tiếp cho các hoạt động vi phạm nhân quyền.
Trần Trang Nhung


        Phóng viên không biên giới hay Ký giả không biên giới là một tổ chức phi chính phủ hoạt động toàn cầu do nhà báo người Pháp Robert Ménard thành lập năm 1985 với mục đích bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ.
         Theo điều tra của 2 nhà báo thuộc đài truyền thanh và truyền hình nhà nước WDR (Đức) tổ chức Phóng viên không biên giới nhận được nhiều ủng hộ từ nhà tỉ phú Mỹ George Soros, người đã từng ủng hộ công đoàn Solidarność hằng triệu Đô la Mỹ, và từ Quỹ quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (National Endowment for Democracy), là tổ chức mà 90% ngân sách xuất phát từ ngân sách quốc gia của Hoa Kỳ và thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ. Cũng thuộc vào trong số những nhà tài trợ là nhà công nghiệp vũ khí và "ông hoàng" truyền thông đại chúng của Pháp Serge Dassault, tập đoàn truyền thông đại chúng Vivendi và nhà tỉ phú François Pinault. Ngoài ra công ty quảng cáo nổi tiếng Saatchi & Saatchi tại New York đều thực hiện miễn phí toàn bộ các hoạt động chung quanh quan hệ công chúng cho tổ chức này.
Vậy, Phóng viên không biên giới có thật sự đúng như cái tên của nó và hoạt động đúng như tôn chỉ, mục đích khi nó ra đời hay không? Tính phi chính phủ có chăng còn nguyên nghĩa khi Phóng viên không biên giới nhận được sự đỡ đầu Mỹ và những nhà tài phiệt phương Tây?
          Hoạt động của RWB những năm qua cho thấy những điểm khuất của tổ chức này. Dư luận quốc tế đã lên án cáo buộc tổ chức RWB, rằng RWB đã tường trình về việc phân biệt đối xử nhà báo một cách có chọn lọc trước. Việc chọn lọc các nước mang định hướng của sự chọn lọc từ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, bỏ qua tất cả các tường trình về những hoạt động chống lại nhà báo trong những nước đồng minh của Hoa Kỳ (Philippines, Ả Rập Saudi) hay chính trong Hoa Kỳ.
         Phải chăng, Phóng viên không biên giới chỉ là sự ghép lại vô nghĩa của REPORTERS, WITHOUT và BORDERS? Sự thật thì không biên giới khó có thể vượt qua được dải ngăn cách của đồng đô la Mỹ.
          Dẫn chứng điển hình như:
        (1) Tổ chức Phóng viên không biên giới đã im lặng nhiều năm trong vụ người quay phim của hãng Al Jazeera, Sami Al-Haj, đã bị bắt cóc tại Pakistan lúc đang trên đường công tác đến Afghanistan, bị tra tấn và vào ngày 13 tháng 6 năm 2002 bị dẫn về Guantánamo. Sự im lặng cố ý của RWB diễn ra trong khi dư luận thế giới vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ quốc gia để yêu cầu sự tự do của báo chí đối với trường hợp nhà báo Sami Ai-Haj.
Nhà báo Sami Ai-Haj
           Vào thời điểm tháng 12/2001, Taliban đã mất quyền kiểm soát ở Kandahar, và Al-Hajj cùng với rất nhiều các nhà báo khác cố gắng tìm cách vào Afghanistan từ hướng Pakistan. Tại biên giới Pakistan, Al-Hajj bị tách ra vì nhân viên an ninh biên giới nói rằng "có vấn đề về hộ chiếu". Khi đó các nhân viên tình báo và quân đội Mỹ được lệnh phải bắt giữ một phóng viên quay phim của Đài Al-Jazeera -  người đã ghi hình buổi phỏng vấn với Osama bin Laden tháng 10/2001. Mặc dù hộ chiếu của Al-Hajj ghi rõ vào thời điểm đó anh đang ở Qatar, nhưng cũng không giúp anh thoát khỏi sự bắt giữ của quân đội Mỹ. 7 tháng sau đó trôi qua trong im lặng mà không ai biết tin tức gì về Al-Hajj cho đến khi một nhân viên Hội Chữ thập đỏ mang đến cho vợ của Al-Hajj một bức thư chỉ có vỏn vẹn vài chữ: "Tôi đang ở Guatanamo. Tôi không biết tại sao". Dẫu sao thì chừng đó cũng giúp mọi người biết rằng anh vẫn còn sống -  dù ở một nơi vô cùng nguy hiểm.
          Theo Al-Hajj, lý do anh bị bắt giữ đơn giản chỉ là vì anh làm việc cho Al-Jazeera. Al-Hajj đã nói với tạp chí Time: "Tôi bị thẩm vấn hơn 200 lần, thậm chí ngay trước khi tôi được trả tự do chỉ vài giờ. Và lần nào cũng vậy, tôi đã nói với họ rằng, tôi chỉ là một người quay phim mà thôi". Các câu hỏi thẩm vấn chủ yếu về chuyện nội bộ của Al-Jazeera. Sau khi tra hỏi không thu được thông tin gì, các nhân viên quân sự Mỹ nói với Al-Hajj rằng, Al-Qaeda đã cài gián điệp vào Al-Jazeera và họ muốn anh làm điệp viên hai mang giúp họ giám sát các phóng viên khác, tuy nhiên Al-Hajj đã từ chối.
         Giống như hầu hết 770 nghi phạm khác bị giam giữ tại đây, Al-Hajj chưa từng có cơ hội được bào chữa cho bản thân trước một tòa án hợp pháp. Đến cuối tháng 5/2008, quân đội Mỹ đã trả tự do cho Al-Hajj thông qua trung gian là nhà chức trách Sudan mà không đưa ra bất cứ lời giải thích nào, cũng giống như khi họ bắt giữ anh 6 năm trước đó.
Nhà báo Sami Ai-Haj sau khi ra khỏi nhà tù Cuatanamo
        Giờ đây, khi đã được tự do, Al-Hajj đang viết lại những năm tháng anh bị giam giữ tại Guatanamo. Anh sẽ cho cả thế giới biết về những trải nghiệm của anh về thời gian “tồn tại” - chứ không phải “sống” - dưới cái tên “Phạm nhân số 345”, tiết lộ về cách giấu thức ăn trong các đường ống trong suốt nhiều tháng để tuyệt thực, về lần bị nhốt trong một buồng giam kín suốt 2 tuần mà không được tắm rửa, đánh răng - vì lính gác phát hiện một chiếc đinh sắt ngoài ô cửa sổ phòng giam của anh... Al-Haj nói: "Chính quyền Mỹ chà đạp tất cả các giá trị con người, giá trị đạo đức, giá trị tôn giáo ở Guatanamo". Tại đây, tù nhân bị giam trong các phòng nhỏ chiếu sáng suốt ngày đêm. Các tù nhân bị cô lập hoàn toàn, phải bịt mắt khi di chuyển và cấm tập trung từ 3 người trở lên. Những người bị giam giữ tại Guatanamo còn bị tra tấn dã man như rắc tiêu làm mù mắt, cắt da bằng mảnh kiếng vỡ, đánh bằng dây gai, châm thuốc cho phồng da và lạm dụng tình dục.
        (2) Việc 16 nhà báo bị giết chết trong lần NATO không kích đài truyền hình Nam Tư RTS cũng không được nhắc đến trong bất cứ một bản tường trình hằng năm nào của RWB.
Mỹ và NATO công kích Nam Tư
          Ngày 24-3-1999, mặc dù không được HĐBA LHQ chấp thuận, NATO vẫn tiến hành chiến dịch không kích được xem là lớn nhất từ trước đến nay của tổ chức này ở châu Âu. Các máy bay ném bom của NATO đã dội bom vào cả những mục tiêu quân sự và dân sự của Nam Tư, trong đó có cả Kosovo và thủ đô Belgrade, gây hư hại nặng cơ sở hạ tầng và làm hàng nghìn người thiệt mạng. NATO đã công kích vào đài truyền hình quốc gia Nam Tư RTS làm 16 phóng viên thiệt mạng. Cái chết bi thương của 16 phóng viên Nam Tư, chưa một lần được tổ chức Phóng viên không biên giới nhắc đến.
         Trên đây, chỉ là 2 dẫn chứng điển hình cho thấy sự thiếu minh bạch, sự “chọn lọc” cố ý, thiên vị có chủ đích trong các báo cáo, đệ trình và hoạt động của tổ chức Phóng viên không biên giới. Mượn danh tổ chức này, một số kẻ ra sức xuyên tạc, bóp méo tình hình nhân quyền, dân chủ tại Việt Nam. Vốn dĩ, Phóng viên không biên giới không phải là thước đo chuẩn cho những giá trị dân chủ, nhân quyền, nên việc sử dụng các tài liệu của tổ chức này là không thuyết phục và thiếu khách quan.
Bùi Quốc Huy

Nguyễn Thị Hương, Phó Chủ tịch xã Xuân Lẹ (Thường Xuân, Thanh Hóa) luôn toát lên vẻ đẹp lung linh đầy nhiệt huyết và sức sống căng đầy của tuổi trẻ. Sinh năm 1989, cao 1m65, Nguyễn Thị Hương, tốt nhiệp đại học ngành Xã Hội học và đã tham gia vào Dự án thí điểm tuyển chọn 600 trí thức trẻ ưu tú, có trình độ đại học tăng cường về làm Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Lẹ - thuộc 62 huyện nghèo theo Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 26-1-2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Hương chia sẻ, hiện tại cô vẫn chưa lập gia đình và điều giúp cô tham gia Dự án 600 trí thức trẻ làm Phó Chủ tịch xã xuất phát từ gia đình. Hương tâm sự về công tác tại xã có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là niềm hạnh phúc và động lực lớn để cô chứng tỏ bản thân.
Đôi lời sẻ chia của nữ Phó chủ tịch xã trẻ Nguyễn Thị Hương:
"Khi tôi vừa về nhận công tác được một tháng thì ở xã xảy ra dịch bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò. Tuy không được phân công phụ trách mảng kinh tế, nhưng tôi vẫn cùng đoàn tham gia vận động bà con tiêu hủy trâu bò.  Hôm đó, gần hết giờ làm việc, tôi nhận được điện thoại của trưởng thôn Cộc Chẻ báo ở trong thôn có con trâu chết, và đang có lái buôn đến thỏa thuận mua. Xuống đến nơi, lái buôn đã cột trâu lên xe, nhưng chúng tôi kiên quyết giữ lại và tuyên truyền cho người dân phải tiêu hủy con trâu này vì đây là dịch bệnh rất nguy hiểm. Việc thuyết phục họ tiêu hủy con trâu rất khó khăn vì hộ gia đình đó nghèo và họ đã phải vay tiền ngân hàng để mua trâu. Sau hồi lâu thuyết phục, gia đình cũng đồng ý.

Khi mới về, một số người cũng có vẻ nghi ngờ khả năng của tôi và băn khoăn liệu có làm được việc hay không. Sau một thời gian công tác, tôi cảm nhận được người dân đã bắt đầu tin tưởng và quý mến mình hơn. Đến nhà trò chuyện với bà con, tôi cảm thấy rất thân mật và chân thành. Những kế hoạch mà tôi đưa ra đều được người dân đồng tình, ủng hộ và thực hiện.
Hiện tại, tôi đang chuyên tâm vào công việc và đây là dự án lớn nhất mà tôi dồn tâm sức để thực hiện. Còn "dự án" lớn thứ hai của cuộc đời là lập gia đình. Hiện tại, tôi vẫn chưa nghĩ đến vì vẫn còn khá trẻ và còn nhiều hoài bão phải thực hiện. Bản thân tôi vẫn chưa sẵn sàng cho việc lập gia đình nên có lẽ hiện tại vẫn chưa phải là lúc thích hợp để tính đến chuyện này.
Khi quyết định đăng ký tham gia dự án, bố mẹ cũng khuyên tôi nên suy nghĩ kỹ lưỡng vì con gái một mình lên vùng núi sẽ khó khăn và nguy hiểm. Nhưng, tôi đã cố gắng để thuyết phục bố mẹ hiểu và đồng ý. Thời gian đầu khi mới xa nhà, bố mẹ cũng rất nhớ và thương con gái nên thường xuyên liên lạc và còn lên tận nơi để động viên, thăm hỏi, khích lệ tinh thần của mình.
Đến nay, gia đình luôn song hành và là nguồn động viên lớn lao đối với mình để yên tâm công tác. Ngoài những khó khăn chung như điều kiện sinh hoạt thì phụ nữ xa gia đình cũng có những khó khăn riêng.

Trong công việc, tôi là người lãnh đạo nhưng vì tuổi đời còn rất trẻ nên còn thiếu những kinh nghiệm thực tiễn, kỹ năng quản lý, điều hành và đôi khi không tránh khỏi việc được để mắt và bị trêu đùa. Địa hình xã cũng phức tạp nên thường xuyên phải leo đồi núi, đi bộ và lội suối để vào với bà con.
Là phụ nữ chân yếu tay mềm nên có phần hạn chế, tuy nhiên tôi cũng được cấp ủy Đảng, chính quyền tạo điều kiện, quan tâm giúp đỡ. Mỗi khi phải đi xa vào nhà dân, đều được lãnh đạo cử thêm một cán bộ đi cùng để hỗ trợ đảm bảo an toàn cho mình."
Chúc cho ước mơ của nữ Phó chủ tịch xã sớm thành hiện thực!
Flag Counter

Sự Thật và Dối Trá

Sự Thật và Dối Trá

XEM NHIỀU

bunhinrom007@gmail.com. Được tạo bởi Blogger.

Lượt Xem