Một loạt các phát ngôn tuần qua của giới chức Washington cho thấy dường như Mỹ đã không thể tiếp tục kiên nhẫn trước những hành vi khiêu khích, gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông. Trong khi đó, một số quan chức và học giả Mỹ kêu gọi Washington điều chỉnh chiến lược ngoại giao và mạnh tay hơn đối với Bắc Kinh.

“Sự xâm lược trắng trợn và tham lam”
Nếu ai quan sát các hội thảo thường niên về Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS), một think-tank hàng đầu về đối ngoại của Mỹ tổ chức suốt 4 năm qua sẽ nhận ra một ngữ  hoàn toàn khác ở cuộc hội thảo lần này. Khác với sự mềm mỏng trước đây, bầu không khí căng thẳng và tông giọng cứng rắn đã được xác lập ngay từ bài phát biểu mở đầu hội thảo của ông Mike Rogers, Chủ tịch Tiểu ban Thông tin Tình báo của Hạ viện Mỹ. Trước sự có mặt của các đại biểu đến từ Trung Quốc, ông này đã không ngần ngại mô tả các hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông thời gian qua là “sự xâm lược trắng trợn và tham lam” (nguyên văn: “glutonous, naked aggression”). Có lẽ cũng hiếm có khi nào một quan chức Mỹ lại chỉ trích Bắc Kinh với những lời lẽ thẳng thừng và quyết liệt đến vậy.
Nghị sĩ Đảng Cộng hoà cũng thẳng thắn phê phán Mỹ lâu nay đã quá mềm mỏng đối với Trung Quốc. “Xét từ khía cạnh ngoại giao, chúng ta đã bỏ qua quá nhiều điều cho Trung Quốc mà vốn chúng ta sẽ không bỏ qua cho bất kỳ nước nào khác”.
Ông Rogers kêu gọi chính quyền Mỹ cần “trực tiếp hơn và cứng rắn hơn” với Trung Quốc, hỗ trợ các đối tác và đồng minh trong khu vực nhằm “đẩy lùi” Trung Quốc, cho nước này thấy rằng họ không phải là quốc gia “bá chủ và duy nhất” ở Biển Đông. Vị nghị sĩ này cũng khẳng định Mỹ không thể để tình hình ở biển Đông xấu thêm bởi đó là lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ.
Thông điệp cứng rắn của người đứng đầu Uỷ ban Tình báo Hạ viện đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ nhiều học giả hang đầu tham dự hội thảo. TS Patrick Cronin, giám đốc cao cấp của chương trình an ninh châu Á - Thái Bình Dương tại Trung tâm An ninh mới (CNAS) cũng kêu gọi Washington có chính sách ngoại giao mạnh tay hơn đối với Bắc Kinh. Ông này cho rằng Mỹ đang bắt đầu nghiêm túc hơn trong việc xem xét các chiến lược trừng phạt Trung Quốc nhằm đẩy lùi chiến lược “cưỡng ép có chọn lọc” của nước này trên Biển Đông. “Chúng ta cần cho lãnh đạo Trung Quốc hiểu rằng các thay đổi đơn phương và sử dụng vũ lực là không thể chấp nhận” - ông này nói.
Mỹ, Trung Quốc, biển Đông
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và ông Dương Khiết Trì, ủy viên quốc vụ viện TQ tại Bắc Kinh.Ảnh: Nytimes
Những lời kêu gọi xem xét lại chiến lược ngoại giao của Mỹ với Bắc Kinh cho thấy Mỹ đã mất kiên nhẫn đối với Trung Quốc và ngày càng có giọng điệu cứng rắn hơn trong những tháng gần đây. Ngày 10/7, với toàn bộ phiếu thuận, Thượng viện Mỹ đã nhất trí thông qua nghị quyết mang mã số S.RES.412 về biển Đông yêu cầu Trung Quốc trả lại nguyên trạng trước ngày 1-5-2014. Trước đó, tờ Financial Times trích lời một quan chức chính quyền Mỹ giấu tên cho biết Lầu Năm góc đang cân nhắc các chiến thuật quân sự mới để ứng phó hiệu quả hơn đối với chiến lược “cây gậy nhỏ” của Trung Quốc trên Biển Đông.
Khoảng cách từ lời lẽ cứng rắn đến hành động thực tế
Mặc dù ngày càng có nhiều quan chức và học giả Mỹ kêu gọi Mỹ mạnh tay hơn đối với các hành vi gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông, giới quan sát quốc tế vẫn hoài nghi về khả năng Mỹ sẽ thực sự hành động thay vì chỉ nói cứng như lâu nay.
Mối nghi ngờ này là có cơ sở khi xét về cục diện quốc tế hiện tại. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của lực lượng nổi dậy ở Iraq, tình hình bất ổn ngày càng gia tăng ở Ukraine buộc Mỹ dù miễn cưỡng vẫn phải căng sức lo cho an ninh ở Trung Đông và châu Âu. Khó có khả năng Mỹ triển khai thêm lực lượng tới Biển Đông trong bối cảnh này.
Quan trọng hơn, Mỹ đứng trước tình thế lưỡng nan tại Biển Đông. Một mặt, Mỹ muốn duy trì nguyên tắc trung lập, không đứng về bên nào bởi họ e ngại phải trả giá đắt nếu can dự trực tiếp vào các tranh chấp chủ quyền hay biến Biển Đông thành vấn đề chính trong quan hệ Mỹ - Trung. Mặt khác, nếu Washington không hành động để kiềm chế sự gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông, uy tín, ảnh hưởng và vị thế lãnh đạo của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương sẽ bị xói mòn nghiêm trọng. Giải quyết mối mâu thuẫn giữa duy trì nguyên tắc trung lập và can dự tích cực hơn vào các nỗ lực kiểm soát căng thẳng trong tranh chấp đang là bài toán đau đầu của Washington khi mà Trung Quốc không ngừng leo thang khiêu khích.
Thế lưỡng nan này thể hiện rõ ngay ở kết quả cuộc mô phỏng phản ứng của Mỹ đối với một cuộc đối đầu giữa Philippines và Trung Quốc ở Trường Sa, được tổ chức tại hội thảo Biển Đông. Trong một kịch bản giả tưởng, các tàu hải giám Trung Quốc bao vây tàu Philippines để trả đũa cho một vụ bắt giữ ngư dân nước này. Các học giả đóng vai Ngoại trưởng Mỹ, Bộ trưởng Quốc phòng và Giám đốc Cơ quan Tình báo quốc gia. Những nhân vật này bàn thảo suốt một giờ đồng hồ về các giải pháp để trình lên Tổng thống. Kết quả cuối cùng: họ đề xuất sử dụng ngoại giao hậu trường – thông báo cho Bắc Kinh trong cuộc họp kín rằng Mỹ sẽ sử dụng lực lượng để hỗ trợ đồng minh. Không ít cử toạ nghi ngờ động thái này có thể có tác dụng răn đe hiệu quả đối với Bắc Kinh.
Vẫn còn quá sớm để khẳng định về một bước chuyển hướng quyết liệt của Washington trong cách tiếp cận đối với Trung Quốc. Song các chiến lược gia Hoa Kỳ đang ngày càng nhận thức rõ ràng về mưu đồ của Trung Quốc ở Biển Đông. Họ cũng ý thức được rằng nếu Mỹ chỉ nói mà không làm thì cái gọi là “chiến lược tái cân bằng” hay “xoay trục” về châu Á mà Mỹ ra sức quảng bá lâu nay sẽ chỉ biến thành trò đùa. Ngày càng có nhiều tiếng nói, đặc biệt trong Quốc hội Mỹ kêu gọi đã đến lúc chính quyền Mỹ cần đưa ra một kế hoạch rõ ràng, xác đáng để xác lập vị trí lãnh đạo của Mỹ tại khu vực đang rơi vào bước ngoặt đầy nguy hiểm.
Nói như cây bút bình luận của Bloomberg, William Pesek, sự hung hăng của Trung Quốc đã trao cho Obama một cơ hội thứ hai và lịch sử sẽ chỉ trích ông nếu không nỗ lực hơn nữa để tăng cường ảnh hưởng đối với châu Á.
Về phần mình, không một nước nào trong khu vực muốn thấy mình bị lôi kéo vào cuộc cạnh tranh quyền lực giữa hai ông lớn Mỹ - Trung. Bài học lịch sử đã quá thấm thía cho những nước nhỏ khi phải lựa chọn đi với bên này hay bên kia. Điều họ mong muốn từ Mỹ là một cam kết đối với sự phát triển và thịnh vượng lâu dài của châu Á và một cân bằng lực lượng tốt hơn để kiềm chế những hành vi gây bất ổn của Trung Quốc.
(Theo http://vietnamnet.vn)

Với số phiếu thuận tuyệt đối Thượng nghị viện Hoa Kỳ hôm 10-7 đã thông qua Nghị quyết S. Res 412 lên án những hành vi của Trung Quốc gây hấn trên biển Đông, yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 và phục hồi nguyên trạng của vùng biển này như trước ngày 1-5-2014.
Nghị quyết S. Res 412 “Về sử dụng hợp pháp vùng biển châu Á-Thái Bình Dương” đưa ra 4 yêu cầu của Thượng viện Hoa Kỳ và xác lập 5 chính sách của Hoa Kỳ tại khu vực này:
Theo nghị quyết, Thượng viện Hoa Kỳ
1- Lên án tất cả những hành động chèn ép, sử dụng vũ lực để ngăn cản quyền tự do hoạt động trong không phận quốc tế nhằm thay đổi hiện trạng hoặc gây mất ổn định vùng châu Á-Thái Bình Dương
2- Thúc giục Trung Quốc kiềm chế, không thực thi Vùng nhận dạng phòng không Đông Á (East Asia ADIZ) đã công bố, kiềm chế không có những hành vi gây hấn tương tự ở những nơi khác trong vùng châu Á-Thái Bình Dương.
3- Khen ngợi Nhật Bản và Hàn Quốc đã kiềm chế, và
4- Kêu gọi Trung Quốc rút giàn khoan HD 981 và những lực lượng hàng hải đi kèm ra khỏi vị trí hiện thời, kiềm chế không thực hiện những thủ đoạn hàng hải trái ngược với Công ước về Quy định quốc tế nhằm ngăn ngừa xung đột trên biển, trả biển Đông trở về trạng thái như đã từng tồn tại trước ngày 1-5-2014.
Người dân TPHCM tuần hành đòi Trung Quốc rút giàn khoan HD 981 ra khỏi vùng biển Việt Nam. Ảnh: Văn Nam.
Về xác lập chính sách, Thượng viện Hoa Kỳ
1- Ủng hộ các đồng minh và đối tác trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
2-  Phản đối những yêu sách chủ quyền đụng chạm đến quyền, tự do, và việc sử dụng hợp pháp vùng biển.
3- Xử lý tranh chấp mà không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực.
4- Ủng hộ sự phát triển các định chế khu vực để xây dựng sự hợp tác và tăng cường vai trò của luật pháp quốc tế, và
5- Bảo đảm tính liên tục của các hoạt động của Hoa Kỳ ở châu Á-Thái Bình Dương.
Nghị quyết tái khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ của Chính phủ Hoa Kỳ đối với quyền tự do lưu thông hàng hải và việc sử dụng phù hợp với luật pháp quốc tế vùng biển và vùng trời khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đối với việc giải quyết một cách hòa bình theo con đường ngoại giao những tuyên bố và tranh chấp về lãnh thổ và hàng hải trong khu vực.
Nghị quyết được các thượng nghị sĩ của cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đồng thuận với số phiếu thuận tuyệt đối.
Nghị quyết được đề xuất và bảo trợ vào giữa tháng 5-2014, một tuần sau khi Trung Quốc đưa trái phép giàn khoan HD 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên biển Đông – bởi một nhóm các nghị sĩ tên tuổi của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, gồm các Thượng nghị sĩ (TNS) Robert Menendez (Dân chủ, New Jersey), Marco Rubio (Cộng hòa, Florida), Ben Cradin (Dân chủ, Massachusette), Jim Rich (Cộng hòa, Idaho), John McCain (Cộng hòa, Arizona), Patrick Leahy (Dân chủ, Vermont), Diane Feinstein (Dân chủ, California), John Cronyn (Cộng hòa, Texas)
So với dự thảo nghị quyết đề xuất hồi tháng 5-2014, bản nghị quyết S. Res 412 được Thượng viện Hoa Kỳ chính thức thông qua chỉ có một sửa đổi nhỏ nhằm minh định rằng Nghị quyết này không được coi là một lời tuyên chiến hoặc phê chuẩn việc sử dụng vũ lực.
“Hành động mới đây của Trung Quốc đưa một giàn khoan dầu khí, được hộ tống bởi nhiều tàu thuyền, kể cả tàu quân sự, vào vùng tranh chấp ở biển Đông ngoài khơi Việt Nam – cùng những chiến thuật gây hấn mà các tàu thuyền Trung Quốc sử dụng sau đó, kể cả việc đâm chìm các tàu thuyền Việt Nam – là chuyện gây rắc rối sâu sắc. Những hành động này đe dọa việc lưu chuyển tự do của thương mại toàn cầu trong một khu vực thiết yếu. Tuyên bố đơn phương của Trung Quốc về một vùng nhận dạng phòng không hồi tháng 11 năm ngoái và việc gây rối vẫn đang diễn ra với các tàu thuyền Nhật Bản chung quanh một vùng lãnh thổ do Nhật Bản quản lý trên biển Hoa Đông cũng đặt ra những câu hỏi nghiêm trọng về cách tiếp cận của Trung Quốc trong vấn đề an ninh khu vực”, Nghị quyết khẳng định
Nguyên văn nghị quyết S. Res 412 (tiếng Anh) có thể xem tại đây.
(Theo nguyentandung.org)

Ngày 12-7 Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Quảng Bình cho biết tại xã Quảng Phú (Quảng Trạch) có thuyền đánh cá cùng 7 ngư dân hiện đang bị Trung Quốc giữ lại tại đảo Hải Nam.
Tàu cá QB 93256TS do anh Nguyễn Văn Thành làm chủ tàu kiêm thuyền trưởng cùng các ngư dân Nguyễn Anh Hùng, Lê Chí Thanh, Nguyễn Văn Hoàng, Trần Văn Thủy (xã Quảng Phú), Nguyễn Văn Hiểu, Trần Minh Tuấn (xã Quảng Xuân) được chi cục này xác nhận bị Trung Quốc bắt giữ. Hiện đơn vị này cùng các cơ quan chức năng xác minh tàu cá cùng các thuyền viên trên lúc bị bắt giữ nằm ở tọa độ nào. Nguyễn Thanh Minh, nhân viên trực đài canh của Chi cục  khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Quảng Bình cho biết, các tàu cá khác về thuật lại bị nhiều tàu chức năng và máy bay Trung Quốc vờn đuổi một tốp tàu của ngư dân Việt Nam, và tàu của anh Thành đã không may bị bắt giữ.


Bà Nghĩa (bìa trái) cùng vợ của các thuyền viên lo lắng gần nửa tháng nay không biết các ngư dân như thế nào.
Đại tá Nguyễn Văn Phúc, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng Quảng Bình cho biết, qua xác minh các nguồn tin thì tàu cá này bị Trung Quốc bắt giữ. Ngư dân ở đây nhiều khi theo luồng cá đã điều khiển tàu cách đảo Hải Nam từ 20-30 hải lý. Các tài liệu từ Chi cục bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản Quảng Bình cũng cho thấy nhiều khi tàu đánh cá của ngư dân Trung Quốc cũng mon nen cách bờ biển Quảng Bình 5 hải lý và chỉ bị xua đuổi một cách nhân đạo.
Cùng ngày, bà Nguyễn Thị Nghĩa (59 tuổi), mẹ của thuyền trưởng Nguyễn Văn Thành cho biết, gia đình rất khó khăn, vay mượn khắp nơi để mua chiếc tàu gần 800 triệu đi đánh bắt xa bờ. Đi chuyến đầu tiên thì bị bắt giữ ngày 20-6-2014, đến ngày 31-6 thì xã và thôn về báo với cả nhà là tàu và các anh em trên tàu đã bị Trung Quốc bắt. Bà Nghĩa cho biết thêm, hôm 11-7, một nhân viên ngoại giao Việt Nam làm việc ở Trung Quốc đã gọi điện thoại về gia đình bà thông báo cho biết các thuyền viên hiện ở trên tàu trong một cảng ở Nam Hải và bị cấm không được rời khỏi tàu cá. Lương thực và nước uống vẫn đảm bảo, sức khỏe bình thường, không bị đánh đập hoặc hành hung về thể xác cũng như tinh thần.
Chính quyền địa phương xã cùng một số cơ quan ban ngành đã đến thăm hỏi bước đầu đối với gia đình chủ tàu này.Ông Võ Thanh Xuân, Chủ tịch UBND xã Quảng Phú cho biết: “Lãnh đạo xã biết thông tin qua kênh ngoại giao của tỉnh và các xác minh từ đồn biên phòng Roòn rồi về thông báo, động viên gia đình các ngư dân về mặt tư tưởng. Phía Trung Quốc họ thông báo sự việc tàu cá trên qua kênh ngoại giao”.
Ông Đậu Minh Ngọc, Chủ tịch UBND huyện Quảng Trạch thông tin: “Lãnh đạo huyện đã rất chú ý về tàu cá và các ngư dân này. Chúng rôi rất nhanh chóng nhờ cục lãnh sự của Bộ Ngoại giao Việt Nam có các hoạt động tích cực để đưa ngư dân về nước sớm nhất có thể khi xác định đó là tàu cá của địa phương”.
Theo tìm hiểu của PV Báo SGGP, hiện các kênh ngoại vụ của tỉnh Quảng Bình đang tích cực liên lạc với Bộ Ngoại giao Việt Nam để áp dụng các biện pháp bảo hộ các ngư dân này.
(Theo nguyentandung.org)

(NLĐO)- Đại sứ Mỹ tại Philippines Philip Goldberg tuyên bố bản đồ "10 đoạn" mới xuất bản của Trung Quốc không có cơ sở luật pháp quốc tế.

“Trên bản đồ ‘đường 10 đoạn’, các yếu tố cơ bản giống như trong 'đường 9 đoạn' vốn không căn cứ theo luật pháp quốc tế liên quan đến vấn đề này. Nó là thứ gì đó mà Trung Quốc tạo ra từ những lý do lịch sử của họ, nhưng chúng tôi không hiểu căn cứ gì trong đó" - ông Philip Goldberg phát biểu trước Hiệp hội Hiến pháp Philippines ở thành phố Makati hôm 26-6.

Đại sứ Mỹ tại Philippines Philip Goldberg. Ảnh: manila.usembassy.gov
Đại sứ Mỹ tại Philippines Philip Goldberg. Ảnh: manila.usembassy.gov
Vị đại sứ Mỹ bày tỏ sự ủng hộ đối với Manila trong việc phản đối Bắc Kinh thay đổi hiện trạng trên biển Đông. Ông cho rằng việc Bắc Kinh cải tạo bất hợp pháp đảo nhân tạo rõ ràng không được quy định trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển và những nỗ lực của một quốc gia xâm phạm vùng biển hợp pháp của nước khác cần phải bị vạch trần.
“Chúng tôi cho rằng cần có bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông và bộ quy tắc đó phải mang tính bắt buộc chứ không chỉ tồn tại dưới dạng một văn bản mà các bên nhất trí quan sát. Văn bản đó cần có giá trị răn đe” – ông Goldberg nói.
Cùng ngày, Phát ngôn viên Tổng thống Philippines Edwin Lacierda lên tiếng phản pháo tuyên bố trước đó của Bộ Ngoại giao Trung Quốc cáo buộc Philippines và Nhật Bản “đổ thêm dầu vào lửa” trong vấn đề căng thẳng khu vực.
Trên tài khoản Twitter, ông Lacierda tuyên bố Trung Quốc mới là kẻ gây rối trong tất cả những cáo buộc nhằm vào Philippines.Trước đó, hôm 25-6, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh chỉ trích cuộc gặp giữa Tổng thống Philippines Benigno Aquino III và Thủ tướng Nhật Shinzo Abe một ngày trước đó và hối thúc hai nước này “chấm dứt hành động gây phiền toái”.
Được biết, trong cuộc gặp nói trên, Tổng thống Benigno bày tỏ sự đồng tình với kế hoạch mở rộng vai trò quân sự của Nhật Bản. Ông ủng hộ đề xuất của Thủ tướng Abe về việc nới lỏng hiến pháp nhằm cho phép quân đội nước này không chỉ bảo vệ Nhật mà cả các đồng minh trong trường

    Đỗ Quyên (Theo Interaksyon, Philstar)
Bất ngờ, tiếc thương nhưng cũng đầy tự hào là cảm xúc của người thân, đồng đội Trung tá Đặng Thành Chung (huấn luyện viên dù 48 tuổi) và các chiến sĩ gặp nạn trên chiếc trực thăng Mi 171 sáng 7/7.

Ảnh 2: Con gái thứ 2 (Nhím) của anh Chung - Linh Nhi xem dù tại Sân Bay Hoà Lạc. Ảnh: Trung tá Đặng Thành Chung chia sẻ trên Facebook.
Anh Chung cùng con gái út Linh Chi trong một lần xem nhảy dù tại Sân bay Hoà Lạc. Con gái đầu của anh Chung chuẩn bị tốt nghiệp Học viện Hàng không. Ảnh do Trung tá Đặng Thành Chung chia sẻ trên Facebook.
Sáng 8/7, ngõ 162 Lê Trọng Tấn (quận Thanh Xuân, Hà Nội) quẩn quanh nỗi buồn khi một cư dân đã mãi mãi ra đi. Anh là Trung tá Đặng Thành Chung, Đội trưởng đội cứu hộ hàng không, huấn luyện viên dù (Quân chủng Phòng không Không quân), có mặt trên chiếc trực thăng Mi 171 gặp nạn.
Hai ngày nay, bé Nhím (tên ở nhà của Linh Chi - con gái thứ hai anh Chung) luôn miệng hỏi sao bố chưa về. "Nghe cháu nói vậy cả nhà rất đau lòng, chỉ biết nói với cháu là bố bị thương, đang điều trị tại bệnh viện. Ước mơ của Nhím là được nhảy dù như bố", em Vũ Thế Trung (cháu ruột anh Chung) chia sẻ. 
Biết tin tai nạn vào khoảng 8h sáng 7/7, anh Đặng Phước Lợi (anh ruột Trung tá Chung) đang đi công tác lập tức chạy xe về Hòa Lạc.
"Khi đến nơi, em tôi cùng đồng đội đã được đưa vào Bệnh viện 105 cấp cứu", anh Lợi kể, "những người tham gia cứu nạn nói Chung là một trong những người được cứu ra đầu tiên và vẫn cố gắng thều thào vài câu. Khi được cấp cứu tại Viện, gia đình vẫn hy vọng, nhưng đến chiều, trong số 5 người chuyển viện không có em Chung. Tôi biết em đã mất", anh Lợi ngấn nước mắt.
Ảnh 1: Giây phút Trung tá Đặng Thành Chung sống cùng đam mê nhảy dù.
Giây phút Trung tá Đặng Thành Chung sống cùng đam mê nhảy dù.
Trong câu chuyện về em trai mình, anh Lợi không giấu niềm tự hào. Sea Games 21 tại Việt Nam, anh Chung là người mang lá cờ Tổ quốc gắn trên chiếc dù, để máy bay đưa lên bầu trời trong buổi khai mạc. "Nhiều năm công tác trong ngành và được tập huấn tại Nga về tìm kiếm, cứu nạn dù, em luôn được đánh giá là một trong những huấn luyện viên dù xuất sắc của Quân chủng", anh Lợi nói.
Nghe tin con hy sinh, bố mẹ anh Chung ở Thái Nguyên rất sốc. "Vì sức khỏe nên hai ngày nữa bố mẹ tôi mới xuống được", anh Lợi cho hay. 
Cùng công tác trong Quân chủng Phòng không Không quân, anh Bảo (anh vợ Trung tá Chung) ngậm ngùi cho biết Đặng Thành Chung bắt đầu công tác tại Quân chủng năm 1986, được đánh giá là một trong những huấn luyện viên dù có năng lực và dày dặn kinh nghiệm.
“Sự hy sinh của Chung là mất mát lớn với gia đình. Nhưng chúng tôi cũng rất đỗi tự hào về một người con, người em, một người cha, người chồng như Đặng Thành Chung. Chú ấy và các đồng đội đã hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao. Sự hy sinh ấy là một hành động dũng cảm”, anh Bảo xúc động.
Ông Nguyễn Hữu Nam thành viên Câu lạc bộ Dù Hà Nội - Vietwings cho hay, anh Chung là người đồng sáng lập và là giáo viên dạy nhảy dù, dù lượn cho hàng trăm thành viên. Anh rất đam mê bay và luôn sống nhiệt thành. "Anh ra đi không chỉ là mất mát, nỗi buồn lớn với gia đình, đơn vị mà còn của Câu lạc bộ dù và cá nhân tôi", anh Nam nói.
Lễ truy điệu các chiến sĩ tử nạn trong vụ máy bay rơi sẽ diễn ra vào sáng 12/7, tại Nhà tang lễ Viện Quân y 108.
(Theo http://vnexpress.net)

Trung Quốc muốn thách thức trật tự thế giới, mà rõ ràng nhất là nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia.

Những hành động của Trung Quốc từ năm 2012 trở lại đây, như đụng độ với Philippines tại bãi cạn Scarborough, hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 và các dự định giàn khoan khác, hay xây các đảo nhân tạo tại Gạc Ma, bãi Chữ Thập đang là tiêu điểm của dư luận quốc tế.
Trên các phương tiện truyền thông thế giới, có các luồng ý kiến khác nhau về những hành động này. Một bên cho rằng Trung Quốc đang có chính sách xác quyết chủ quyền và thiên nhiều hơn về các hành động cứng rắn. Một bên cho rằng Trung Quốc đang có ý định thay đổi lãnh thổ về mặt địa lý - "bành trướng lãnh thổ" (territorial expansion).
Xét bối cảnh lịch sử, khái niệm "bành trướng lãnh thổ" luôn gắn liền với sự xuất hiện của những quốc gia, nhờ một số yếu tố nào đó, đạt được ưu thế về nguồn lực so với các nước khác. Những nước này không hài lòng với trật tự hiện tại, và tìm cách thay đổi phù hợp với lợi ích của mình, thường thì bằng vũ lực. Kết thúc của quá trình này là xung đột và chiến tranh, mà ví dụ gần đây nhất là Chiến tranh thế giới 2.
Liệu lịch sử có khả năng lặp lại đang vừa là câu hỏi, vừa là nỗi ám ảnh. Vì từ lúc Bắc Kinh mở cửa và cải cách, cuộc tranh luận của các học giả thế giới về một viễn cảnh "Trung Quốc mạnh" luôn bị chia rẽ bởi hai trường phái. Một bên cho rằng sự trỗi dậy của các quốc gia trong lịch sử đều mang tính quy luật, thể hiện qua công thức: mạnh về kinh tế, tăng cường quân sự, mở rộng ảnh hưởng - lãnh thổ, đòi quyền bá chủ. Trung Quốc như một sức mạnh mới của hiện tại và tương lai sẽ không ngoại lệ: Bắc Kinh sẽ không còn là một cường quốc nguyên trạng, và "bành trướng lãnh thổ" là chỉ dấu đầu tiên.
Quan điểm còn lại cho rằng Trung Quốc có thể là một trường hợp vượt qua những nguyên tắc thông thường của lịch sử. Tức là không chiến tranh, không xung đột, thậm chí vẽ ra viễn cảnh hợp tác và thịnh vượng. Việc chính phủ Trung Quốc kêu gọi "trỗi dậy (sau đó là phát triển) hòa bình" từ 2002, cùng với các chính sách hòa dịu, đón đầu, tìm kiếm hợp tác hơn là đe dọa và thách thức chiến tranh đã có lúc khiến người ta tin vào phát ngôn của nước này.
TQ hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của VN. Ảnh: Hoàng Sang
TQ hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của VN. Ảnh: Hoàng Sang
Khi vụ giàn khoan Hải Dương 981 xảy ra, những học giả Trung Quốc lên tiếng rằng "bành trướng lãnh thổ" là một ngôn từ xa với thực tế. Một mặt, họ vin vào lịch sử mà họ cho là "không chối cãi" của Trung Quốc tại biển Đông, với những bằng chứng từ mơ hồ thời Tống, thời Đường nào đó. Từ đó lớn tiếng rằng xác quyết chủ quyền là hành động hợp lý của một quốc gia bình thường.
Tuy nhiên, những hành động vừa qua của Bắc Kinh tại biển Đông, cũng như kinh nghiệm sâu sắc từ lịch sử cho thấy rõ ràng bản chất vấn đề là "bành trướng lãnh thổ", chứ không thể là xác quyết chủ quyền. Hơn nữa, nó được tiến hành theo cách thức thiếu văn minh, nguy hiểm và hoàn toàn đi ngược lại mọi quy tắc pháp lý được cộng đồng quốc tế chấp nhận.
Thứ nhất, sự kiện giàn khoan không chỉ là câu chuyện của bây giờ, nó đã bắt nguồn từ rất lâu, mà các sự kiện gần đây là vào 1974 và 1988, khi Trung Quốc mang tàu chiến đánh chiếm Hoàng Sa và Gạc Ma của Việt Nam. Đây là sự thật lịch sử, không thể ngụy biện như phía Bắc Kinh tuyên truyền. Lấy một việc sai quấy để biện minh cho một việc làm khác (cũng sai nốt) thì kết quả không thể nào đúng.
Hơn nữa, chủ quyền của một quốc gia thường được phân định bằng đường biên giới. Nó có kinh độ, vĩ độ, được đo đạc, phân định hay đàm phán với các nước xung quanh thông qua thỏa thuận hay dựa trên một quy tắc quốc tế nào đó. Cách TQ xác lập chủ quyền trên biển Đông đi ngược lại tất cả các điều kiện này. Bản đồ 9 đoạn trước đây không có kinh độ, vĩ độ, thì bản đồ 10 đoạn vừa được công bố càng cho thấy đây chẳng qua là một kế hoạch bành trướng lãnh thổ, bất chấp đó là đảo, đá, hay vùng biển lân cận.
Cuối cùng các hành động xác quyết gần đây đều lấy hình thức dân sự làm vỏ bọc. Nhưng đằng sau đó là xu thế sẵn sàng sử dụng vũ lực, thậm chí cả khi những hành động này gây nguy hiểm cho những người "tay không tấc sắt" từ các nước láng giềng. Những vụ đâm chìm tàu, bắt và xua đuổi ngư dân Việt Nam là bằng chứng sống.
Trung Quốc muốn thách thức trật tự thế giới, mà rõ ràng nhất là nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia. Trong khi bản đồ 9 đoạn, nói như một học giả Trung Quốc, là một sự ỡm ờ về mặt chiến lược để tạo lợi thế khi đàm phán, thì những hành động trên thực địa cho thấy một ý định khác rõ ràng hơn. Đó là tạo sự "đã rồi" bằng vũ lực và cưỡng chế, khi những rao giảng về mặt trận tuyên truyền đang gặp phải chống đối dữ dội. Từ đó hướng đến "bắt nạt" các nước có tranh chấp, từng nước một, và cuối cùng là một sự "kẻ cả" trong đàm phán khi Trung Quốc bỏ 9 làm 10, gia giảm những yêu sách của bản đồ 10 thành 9 hay 8 đoạn nhằm cho thấy đã có sự nhân nhượng từ nước lớn.
Như vậy, những gì đang và sẽ diễn ra trên biển Đông của Trung Quốc không thể gọi là hành động "xác quyết chủ quyền". Vì làm gì có một thứ chủ quyền vô giới hạn, dựa trên sự tự "huyễn hoặc" và ép người khác phải tuân theo bằng sức mạnh của cơ bắp. Đó phải là hành động "bành trướng lãnh thổ" bằng quân sự và vũ lực, đi cùng với tiếng "kèn trống" của giới dân sự, khoa học, và báo chí nước này.
(Theo Vũ Quỳnh Vietnamnet)

“... Có 2 ca nô cùng lực lượng trên tàu Trung Quốc đang tiến về tàu cháu, làm sao đây cậu…” - Đó là câu cuối cùng của Thuyền trưởng tàu QNg 94912-TS (tàu bị Trung Quốc bắt giữ) nói qua điện đàm với người cậu đang trên con tàu cạnh đó..

Tàu cá QNg 94913-TS cập bờ trong nỗi cay đắng bị uy hiếp trên vùng biển Việt Nam.
Tàu cá QNg 94913-TS cập bờ trong nỗi cay đắng bị uy hiếp trên vùng biển Việt Nam.

Ngay từ mờ sáng ngày hôm nay (5/7), hàng trăm người dân Phổ Thạnh và gia đình những ngư dân trên tàu cá vừa bị Trung Quốc bắt giữ ngồi chờ ở đầu cảng Sa Huỳnh. Khi chiếc tàu QNg 94913-TS dần tiến về, cũng là lúc những giọt nước mắt rơi dài.
 
Vừa cập cảng Sa Huỳnh, gia đình 2 ngư dân Trần Xi và Nguyễn Ngọc Quý ùa lên tàu, ôm lấy chồng và cha vừa thoát khỏi sự hung hãn của lực lượng có vũ trang phía Trung Quốc.
 
Thuyền trưởng tàu QNg 94913-TS kể lại: “Khoảng 7h00 ngày 3/7, khi 2 tàu đang thả lưới giã cào trên vùng biển vịnh Bắc Bộ, lúc này xuất hiện tàu Trung Quốc (số hiệu 3103) tăng tốc, tiến sát và quần thảo quanh 2 tàu cá chúng tôi. Một lúc sau, tôi quan sát thấy tàu Trung Quốc dừng gần tàu QNg 94912-TS rồi thả 2 ca nô máy lao đến tàu cháu Tèo”.
Thuyền trưởng Trần Xi (áo trắng) và ngư dân Nguyễn Ngọc Quý vẫn còn thẫn thờ khi kể lại sự việc.
Thuyền trưởng Trần Xi (áo trắng) và ngư dân Nguyễn Ngọc Quý vẫn còn thẫn thờ khi kể lại sự việc.
Ngay lập tức, Thuyền trưởng Trần Xi quay vào buồng lái để điện đàm hỏi tình hình thì bất ngờ bộ đàm I-com phát lên lời của ngư dân Võ Tấn Tèo (thuyền trưởng tàu QNg 94912-TS, con chủ tàu Võ Đạt) đang cầu khẩn : “Cậu ơi, bọn chúng chĩa súng về tàu cháu như muốn bắn, có 2 ca nô cùng lực lượng trên tàu Trung Quốc đang tiến về tàu cháu, làm sao đây cậu…”.
Bên cạnh hành động tấn công, tàu Trung Quốc thường xuyên chạy trước mũi tàu cá QNg 94912-TS cố ý để tàu cá Quảng Ngãi va chạm và quay phim, chụp ảnh. Thuyền trưởng Xi hướng dẫn cháu Tèo: “Cháu giảm tốc độ, chứ lỡ va chạm vào tàu bọn chúng (Trung Quốc) thì nó có cớ bắn mình đó, rồi nó quay phim vu khống mình tông nữa”, bộ đàm I-com bên tàu QNg 94912-TS bỗng im lặng và mất liên lạc.
Những người mẹ, người vợ ngóng chờ tin của người dân ướt đẫm trong nước mắt.
Những người mẹ, người vợ ngóng chờ tin trong nước mắt.
Bà Trần Thì Dề - mẹ ngư dân Lê Văn Thun khóc ngất khi con bị Trung Quốc bắt giam nơi xứ Tàu.
Bà Trần Thì Dề - mẹ ngư dân Lê Văn Thun khóc ngất khi hay con bị Trung Quốc bắt giam.

Lo sợ tàu Trung Quốc tiếp tục tấn công, thuyền trưởng Trần Xi quyết định cho tàu chạy cách xa khoảng 4 hải lý để giữ khoảng cách an toàn, rồi thả neo dừng lại theo dõi tình hình bên tàu QNg 94912-TS. Ngư dân Trần Xi chứng kiến tàu QNg 94912-TS bị khống chế chạy về hướng đảo Hải Nam với sự áp tải của tàu quân sự Trung Quốc.
 
“Tôi liên tục kết nối bộ đàm I-com với cháu Tèo nhưng đều không được. Lúc này tôi quá bối rối, liền điện đàm thông báo sự việc cho hơn 20 tàu cá hoạt động khu vực vịnh Bắc Bộ cảnh giác. Chờ mãi cho đến tối, mọi tín hiệu và chiếc tàu QNg 94912-TS cùng 6 ngư dân vẫn biệt tăm. Tôi cùng ngư dân Quý đành trở về…”, giọng thuyền trưởng Xi dần nặng trĩu khi kể lại sự việc.
Con trai ngư dân Trần Xi mừng tủi khi cha trở về an toàn.
Con trai ngư dân Trần Xi mừng tủi khi cha trở về.
 
Cả cuộc đời bám biển ở vịnh Bắc Bộ, chủ tàu Võ Đạt chưa bao giờ bị tàu Trung Quốc tấn công, bắt bớ như lần này. Cảm giác con vừa bị bắt và vừa mất tàu cá gần 2 tỷ đồng, ông Đạt chỉ biết câm lặng, dần ứa lệ trên khuôn mặt rám nắng.
Ông Võ Đạt bày tỏ: “Phía Trung Quốc thật quá ngang ngược, khi vu khống tàu của gia đình tôi xâm phạm lãnh hải. Vị trí bị bọn Trung Quốc tấn công, vây bắt thuộc vùng vịnh Bắc Bộ - ngư trường truyền thống mà tôi gắn bó hàng chục năm qua. Giờ này, mọi thông tin về con trai cùng 5 ngư dân đều vô vọng. Tôi chỉ biết trông cậy vào sự can thiệp của chính quyền thôi”.
Sau khi về tới cảng Sa Huỳnh, 2 ngư dân Trần Xi và Nguyễn Ngọc Quý làm việc với các cơ quan chức năng để các cơ quan tham mưu các cấp can thiệp đưa 6 ngư dân Phổ Thạnh trở về an toàn.
(Theo dantri.com.vn)

Tờ Bloomberg dẫn lời Giáo sư Carl Thayer, học viện Quốc phòng Úc, cho rằng động thái bắt giữ 6 ngư dân Việt Nam của Trung Quốc mới đây "đầu độc thêm bầu không khí hiện nay" giữa hai nước.

Trung Quốc vẫn triển khai rất nhiều tàu quanh khu vực hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981.
Trung Quốc vẫn triển khai rất nhiều tàu quanh khu vực hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981.
Tờ Bưu điện Hoa Nam của Hồng Kông cho biết các ngư dân Việt Nam bị các tàu tuần tra của Trung Quốc bắt vào ngày thứ năm vừa qua và vị trí các ngư dân bị bắt giữ vẫn còn gây tranh cãi.
Tờ báo này dẫn lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi cho biết vụ bắt giữ xảy ra ở cách đảo Hải Nam 12km, thuộc lãnh hải của Trung Quốc! Và ông Hồng Lỗi cho biết thêm giới chức Trung Quốc đang điều tra vụ việc “theo luật pháp”.
Tuy nhiên ông Nguyễn Kỳ - Chủ tịch UBND xã Phổ Thạnh huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, nơi cư trú của 6 ngư dân cho biết, tàu cá của 6 ngư dân đã bị tàu Trung Quốc tấn công và vây bắt tại khu vực vùng biển Vịnh Bắc Bộ. Và khu vực này là ngư trường đánh bắt truyền thống của ngư dân Việt Nam.
Trước động thái mới nhất của Trung Quốc trên, giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Biển Đông, làm việc ở Học viện Quốc phòng Úc, cho biết qua điện thoại với hãng tin Bloomberg rằng, vụ việc “đầu độc thêm bầu không khí hiện nay”. “Đây là hành động đơn phương trong khu vực Việt Nam có chủ quyền rõ ràng hoặc đang còn trong tranh chấp.”
Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông và ngày càng có những hành động hiếu chiến hơn để khẳng định tuyên bố ngang ngược, phi lý đó. Ngư dân Việt Nam trước đây đã không ít lần bị phía Trung Quốc bắt giữ. Nhưng đây là lần bắt giữ đầu tiên kể từ khi Trung Quốc triển khai trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam từ đầu tháng 5 vừa qua.
(Theo dantri.com.vn)

Đại sứ Lê Hoài Trung, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực của Việt Nam tại Liên hợp quốc vừa tiếp tục gửi thư lên Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon đề nghị lưu hành hai văn bản nêu rõ lập trường của Việt Nam về việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Tài liệu cũng nêu rõ Trung Quốc đã sử dụng vũ lực 2 lần xâm chiếm trái phép Hoàng Sa. Việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền là hành vi bất hợp pháp và không thể là cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền.
Tàu Trung Quốc (trái) hung hăng đâm tàu Việt Nam trên Hoàng Sa - vùng biển mà mọi chứng cứ lịch sử đều khẳng định thuộc chủ quyền của Việt Nam
Tàu Trung Quốc (trái) hung hăng đâm tàu Việt Nam trên Hoàng Sa - vùng biển mà mọi chứng cứ lịch sử đều khẳng định thuộc chủ quyền của Việt Nam
Tại văn bản thứ nhất, Việt Nam cho rằng Trung Quốc đang làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông bằng các hành động vi phạm luật pháp quốc tế do hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam mà tại đó Việt Nam được hưởng các quyền của một quốc gia ven biển theo qui định của Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982. Ngoài ra, để bảo vệ hoạt động bất hợp pháp của giàn khoan trên, Trung Quốc đã đưa hơn 100 tàu hộ tống, trong đó có tàu quân sự vào vùng biển của Việt Nam. Các tàu Hải cảnh của Trung Quốc liên tục chủ động đâm húc, bắn vòi rồng vào các tàu thực thi pháp luật của Việt Nam, thậm chí còn đâm chìm một tàu cá của ngư dân Việt Nam.
Văn bản trên cho biết tất cả các nỗ lực và thiện chí của Việt Nam để giải quyết tình hình căng thẳng thông qua đối thoại và các biện pháp hòa bình khác đã liên tục bị Trung Quốc khước từ.
Văn bản thứ hai đề cập tới chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và hoàn toàn bác bỏ cả trên thực tế cũng như pháp lý yêu sách không có cơ sở pháp lý và lịch sử về chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) nêu trong văn bản của Đại biện Phái đoàn đại diện thường trực nước CHND Trung Hoa gửi Tổng thư ký LHQ ngày 22-5 và 9-6.
Trong văn bản thứ hai này, Bộ Ngoại giao nước ta đã chỉ rõ các tư liệu lịch sử không thống nhất với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa; khẳng định những tài liệu Trung Quốc dẫn chiếu nhằm chứng minh cho cái gọi là “chủ quyền” của họ đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là không có nguồn gốc rõ ràng, không chính xác và được Trung Quốc diễn giải một cách tùy tiện. Các tài liệu này không chứng tỏ rằng Trung Quốc đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa khi quần đảo còn là lãnh thổ vô chủ. Ngược lại, các ghi chép lịch sử cho thấy chủ quyền của Trung Quốc chưa bao giờ có quần đảo Hoàng Sa.
Trong khi đó, Việt Nam đã cung cấp công khai các tài liệu lịch sử xác thực cho thấy Việt Nam đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ khi quần đảo là lãnh thổ vô chủ. Tài liệu cũng nêu rõ Trung Quốc đã sử dụng vũ lực hai lần xâm chiếm trái phép Hoàng Sa. Cụ thể, năm 1956, lợi dụng lúc Pháp rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc đã xâm chiếm nhóm đảo phía Đông của Hoàng Sa và bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa phản đối mạnh mẽ. Sau đó, năm 1974, lợi dụng tình hình chiến tranh ở Việt Nam, Trung Quốc đã tấn công và giành quyền kiểm soát Hoàng Sa từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chiếm đóng bằng vũ lực toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.
Từ góc độ luật pháp quốc tế, việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền là hành vi bất hợp pháp và không thể là cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền. Vì vậy, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa vẫn được duy trì và không bị thay thế bởi sự chiếm đóng bằng vũ lực của Trung Quốc. Bị vong lục ngày 12-5-1988 của Trung Quốc – một văn bản chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng khẳng định rõ một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế là “xâm lược không thể sinh ra chủ quyền” đối với một vùng lãnh thổ. Không có quốc gia nào trên thế giới công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.
Văn bản thứ hai còn khẳng định Việt Nam chưa bao giờ công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, vạch rõ việc Trung Quốc đã cố tình xuyên tạc lịch sử và diễn giải sai lịch sử khi viện dẫn Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 và một số tài liệu, ấn phẩm được xuất bản ở Việt Nam trước năm 1975 để củng cố yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Công thư của cố
Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn không nhắc gì đến chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa.
Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng sự thật lịch sử đó và nghiêm túc đàm phán với Việt Nam về vấn đề quần đảo Hoàng Sa. Như vậy, đây là lần thứ tư Việt Nam gửi thư đề nghị Tổng thư ký LHQ lưu hành các tài liệu của Việt Nam khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và liên quan đến việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
(Theo http://nguyentandung.org/)

Trong chuyên mục “Giải mã tình hình quân sự” của Đài truyền hình Bắc Kinh, chuyên gia quân sự Trung Quốc Lương Phương đã phân tích những nguyên nhân Trung Quốc cần phải đột phá qua chuỗi đảo thứ nhất và thứ 2, đồng thời đưa ra những cảnh báo và các biện pháp thực hiện.

Hiện nay, Mỹ đang xây dựng hàng loạt căn cứ hải quân, không quân ở 2 chuỗi đảo chiến lược, nắm giữ toàn bộ các vị trí chiến lược ở Thái Bình Dương và không chế tất cả các cụm đảo, vùng biển, eo biển và các luồng đường huyết mạch, biến chúng trở thành những đầu cầu chiến lược để Mỹ xây mộng bá chủ châu Á – Thái Bình Dương.
“Chuỗi đảo” là một bộ phận trong lý luận chiến lược địa lý hình thành trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Khái niệm “chuỗi đảo” được cựu ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles đưa ra lần đầu tiên vào năm 1951. Đầu tiên, nó được Mỹ sử dụng trong chiến lược đối phó với Liên Xô, đặc biệt là ngăn chặn tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương của họ.
Trung Quốc đang xây dựng biên đội tàu sân bay để đối chọi với tàu sân bay Mỹ
Chuỗi đảo thứ nhất được chia làm 3 bộ phận nối liền nhau, bắt đầu từ phía bắc với quần đảo Aleutian, quần đảo Kuril, quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, mắt xích ở giữa chính là đảo Đài Loan, nối tiếp xuống phía nam là quần đảo Philippines, quần đảo Indonesia.
Còn chuỗi đảo thứ 2 chạy từ bắc đến nam, bắt đầu ở phía bắc bởi đảo Honshu của Nhật Bản, quần đảo Ogasawara, quần đảo Iwo Jima, quần đảo Mariana và cuói cùng là quần đảo Palau. Trong chuỗi đảo này có một mắt xích rất quan trọng, đó chính là đảo Guam – một căn cứ quân sự rất quan trọng của Mỹ.
Phía sau 2 chuỗi đảo này còn có cụm căn cứ quân sự rất lớn đóng tại đảo Hawaii – 1 trong 2 tiểu bang nằm ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ (cùng với Alaska). Đây là trung tâm đầu não của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương và cũng đại bản doanh của lực lượng dự bị chiến lược Mỹ. Căn cứ hải quân nổi tiếng Trân Châu Cảng là căn cứ hải quân lớn nhất, có vị trí địa lý quan trọng nhất và cũng là nơi đặt trụ sở của hạm đội Thái Bình Dương.
Bản đồ thể hiện chuỗi đảo thứ nhất và thứ 2 của Mỹ
Căn cứ Smith trên đảo Hawaii chính là nơi đặt trụ sở Bộ tư lệnh Thái Bình Dương và Bộ chỉ huy lực lượng hải quân đánh bộ. Bộ chỉ huy lục quân Thái Bình Dương đóng tại Fort Shafter, còn Bộ chỉ huy không quân Thái Bình Dương đóng ở căn cứ không quân Hickam. Ngoài ra, đảo Midway và đảo Johnston cũng có các sân bay và căn cứ hải quân quan trọng.
Hiện nay, tổng số quân Mỹ đóng tại châu Á – Thái Bình Dương vào khoảng 150.000 quân, trong đó lục quân là 50.000, bao gồm 1 tập đoàn quân và 2 sư đoàn; không quân có khoảng 39.000 người, biên chế thành 4 liên đội (25 chi đội) với 370 máy bay các loại; hải quân và hải quân đánh bộ có 60.000 quân, được biên chế 1 tàu sân bay hạt nhân, 19 chiến hạm và 390 máy bay.
Khi bàn đến vấn đề vì sao phải xuyên phá qua chuỗi đảo thứ nhất và chuỗi đảo thứ 2, chuyên gia Lương Phượng nói, nguyên nhân đầu tiên xuất phát từ yêu cầu phát triển của Trung Quốc. Hiện nay mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc 90% là thông qua con đường vận tải biển. Tuyến đường phía Nam chủ yếu là nhập khẩu quặng sắt từ Australia và các tuyến đường phía tây chủ yếu nhập khẩu dầu chất lượng cao từ Trung Đông.
Để đảm bảo thông suốt 2 tuyến đường đó, Trung Quốc phải đột phá qua chuỗi đảo thứ nhất, khai thông tuyến đường qua eo biển Malacca và Ấn Độ Dương. Đây chính là một yêu cầu tối quan trọng đặt ra cho quân đội Trung Quốc, bảo đảm cho đất nước duy trì đà phát triển kinh tế bền vững trong tương lai.
Hải quân Mỹ đang lắp đặt tên lửa hành trình Tomahawk trên tàu ngầm
Nguyên nhân thứ 2 mà ông Lương Phương đề cập đến là xuất phát từ yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia và chiều sâu phòng ngự trên biển. Cải cách, mở cửa đã hình thành chuỗi trung tâm kinh tế duyên hải rất mạnh của Trung Quốc như Quảng Châu, Thâm Quyến, Chiết Giang, Thượng Hải…,  chiếm tỷ trọng rất lớn trong nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, xét về góc độ quân sự thì các khu trung tâm kinh tế ven biển rất yếu ớt trước sự tấn công của các đối thủ. Ví dụ như vũ khí dẫn đường tấn công chính xác tầm xa của quân đội Mỹ có vai trò rất quan trọng trong chiến tranh hiện đại. Tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm có phạm vi tấn công bao trùm 60% diện tích địa cầu, hoặc tên lửa hành trình Tomahawk phóng từ tàu ngầm lớp Virginia có tầm bắn xa tới 2500km. Đây chính là mũi kiếm sắc bén của Mỹ ẩn nấp sau 2 chuỗi đảo, rình rập tấn công Trung Quốc.
Điều này có nghĩa là người Mỹ chẳng cần tiến vào phạm vi của chuỗi đảo thứ nhất mà chỉ cần đứng ngoài ranh giới của chuỗi đảo này, từ hải phận quốc tế trực tiếp tấn công khu vực duyên hải đông nam Trung Quốc, thậm chí là tận sâu trong Đại Lục. Điều này có ảnh hưởng vô cùng lớn đối với chiến lược an ninh quốc gia của Trung Quốc.
Tên lửa Đông Phong DF-21D - sát thủ tàu sân bay của Trung Quốc
Ông Lương Phương cho biết, hiện nay Trung Quốc mới chỉ mon men trong phạm vi chuỗi đảo thứ nhất, điều này là không đủ đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia. Hải quân Trung Quốc cần xuyên phá quá chuỗi đảo thứ nhất, tiến ra biển xa và rất xa để bảo vệ lợi ích quốc gia, đây cũng chính là đã đẩy các mối đe dọa ra xa lãnh thổ Trung Quốc.
Chính vì vậy, mở rộng chiều sâu phòng ngự trên biển, phát triển các phương tiện tác chiến cỡ lớn và các loại vũ khí tấn công chính xác tầm xa là vô cùng quan trọng để chống lại sự uy hiếp từ các chuỗi đảo của đối phương. Thời gian qua, việc Trung Quốc phát triển tàu sân bay, tàu ngầm hạt nhân chiến lược, tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm, tên lửa đạn đạo chống tàu sân bay… chính là nhằm mở rộng chiều sâu phòng ngự trên biển, đẩy các mối đe dọa ra xa lãnh thổ.
(Theo nguyentandung.org)

Căng thẳng ngoài Biển Đông không ngừng gia tăng, các nước láng giềng trong khu vực đều ở trong trạng thái nguy hiểm. Nếu Trung – Việt phát sinh xung đột, tuyến đường thương mại tại Biển Đông theo đó cũng bị gián đoạn, kéo theo nền kinh tế khu vực ASEAN thậm chí là thế giới cũng bị ảnh hưởng không hề nhỏ.

Theo phương tiện truyền thông Singapore, tuyến đường hàng hải trên Biển Đông là một trong những tuyến đường thương mại nhộn nhịp nhất trên thế giới và có nguy cơ trở thành một chiến trường trên thế giới. Cùng với vấn đề chủ quyền ngày càng kịch liệt ngoài Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, tuyến đường hàng hải khu vực này chắc chắn cũng bị ảnh hưởng, đây là một vấn đề lớn cần được quan tâm.
Tuy nhiên, theo chuyên gia phân tích thuộc công ty tư vấn vận tải biển Drewry Shipping Consultants ở Singapore – Krishna cho biết, Trung Quốc – Việt Nam nếu phát sinh xung đột, nền kinh tế Trung Quốc tất nhiên sẽ phải gánh chịu tổn thất nặng nề nhất, do đó đây không phải là phương sách cuối cùng của Trung Quốc, Trung Quốc sẽ không đưa ra hành động nguy hiểm như vậy.

Dòng chảy thương mại dầu thô tại Biển Đông năm 2011 cho thấy quy mô và tầm quan trọng của tuyến hàng hải biển Đông, nếu có xung đột, Trung Quốc sẽ là nước chịu thiệt hại nhiều nhất
Krishna nói: “Nếu (tuyến đường hàng hải) gặp phải một sự trở ngại hoặc can thiệp nào đó, thì đều không có lợi cho Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc hoặc Đài Loan… nhưng tôi không lo lắng về vấn đề này. Tôi cho rằng tình huống như vậy sẽ không xảy ra”.
Krishna cho rằng, tuyến đường hàng hải tại Biển Đông đại đa số đều cập bến Trung Quốc hoặc bắt nguồn từ Trung Quốc, nếu xung đột xảy ra, sẽ làm ảnh hưởng đến tuyến đường thương mại, và trong tất cả các quốc gia các tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển này, thì Trung Quốc là nước sẽ chịu thiệt hại nhiều nhất.
Ông Shivaji Das, Phó Chủ tịch công ty tư vấn Frost and Sullivan, có trụ sở tại Singapore cho biết, nhìn từ lịch sử thế giới cận đại, mối đe dọa của tự do hàng hải đa phần đến từ các hoạt động cướp biển, và chiến tranh sẽ làm ảnh hưởng đến tuyến đường thương mại tại Biển Đông, mà ông lại cho rằng “tình huống như vậy sẽ không xảy ra vì đối với mỗi quốc gia, tuyến đường thương mại biển là rất quan trọng”.
Ông nói: “Mỗi quốc gia có vùng đặc quyền kinh tế riêng, nhưng họ vẫn cho phép các tàu tự do qua lại. Tự do hàng hải sẽ không bị ảnh hưởng trừ khi khu vực phát sinh xung đột”.
Các phần tử vũ trang miền Bắc Iraq gần đây tăng cường tiếp cận Thủ đô Baghdad, khiến cho giá dầu toàn cầu tăng cao. Biển Đông được cho là con đường vận chuyển dầu khí chủ yếu, mặc dù tình hình lãnh thổ tăng cao, nhưng vẫn chưa đủ làm ảnh hưởng đến giá dầu thế giới.
(Theo http://nguyentandung.org/)

Một cuộc xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và các đồng minh Châu Á của Mỹ – chẳng hạn như Philippines – là có thể xảy ra, bất chấp quan hệ kinh tế sâu đậm giữa các nước này với Bắc Kinh, một chuyên gia phân tích an ninh người Úc bình luận.

Tàu sân bay USS George Washington của Hạm đội 7 Hải quân Mỹ đang di chuyển gần đảo Guam
Tàu sân bay USS George Washington của Hạm đội 7 Hải quân Mỹ đang di chuyển gần đảo Guam
Trung Quốc có thể sẽ sẵn sàng chịu rủi ro về mặt tài chính vì nước này đang cố gắng thống trị vùng biển đang có tranh chấp với các nước láng giềng và thách thức ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực, tờ The Philippines Star dẫn lời Giáo sư Alan Dupont, chuyên gia nghiên cứu an ninh quốc tế thuộc Trường Đại học New South Wales (Úc), bình luận.
“Đừng quên rằng ngay cả quan hệ giao thương chặt chẽ giữa Anh và Đức hồi đầu thế kỷ 20 đã không ngăn được họ đánh nhau vào năm 1914”, Giáo sư Dupont nhận định, hàm ý muốn đề cập đến Thế chiến thứ nhất.
Ông cũng dẫn nghiên cứu mới đây của Georgetown, một trong những trường đại học uy tín nhất nước Mỹ, cho rằng các quốc gia Đông Á như Trung Quốc và Nhật Bản sẽ chấp nhận chịu thiệt hại về kinh tế, chứ không để mất cái họ gọi là chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
“Sẽ là sai lầm nếu cho rằng mức độ sâu đậm của các mối quan hệ thương mại là một sự đảm bảo hay là biểu hiện của hòa bình”, Giáo sư Dupont nói
Chẳng hạn, đối với Philippines, Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại quan trọng nhất của đảo quốc này, lớn thứ 3 sau Mỹ và Nhật, theo ông Dupont. Trung Quốc cũng là nước đứng thứ 9 về nguồn đầu tư nước ngoài và thứ 4 về lượng du khách đến Philippines.
Ông Micah Zenko, một nhà phân tích tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Mỹ (CFR), được tạp chí Foreign Policy (Mỹ) trích dẫn nhận định rằng chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ không là điều ” được tính toán từ trước,” nhưng có thể đến từ nhiều căng thẳng chồng chất.
“Mỹ có thể bị lôi kéo vào một cuộc chiến giành chủ quyền lãnh thổ mà Trung Quốc đang góp mặt, đặc biệt là kể từ khi Washington ký hiệp ước phòng thủ song phương với Nhật và Philippines”, chuyên gia này cảnh báo.
Zenko nói các nước liên quan chỉ có thể tránh chiến tranh nếu họ đưa ra được những giải thích về hành động của mình tại các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ).
“Tình trạng thiếu hụt tài nguyên là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến các hành động quân sự đơn phương của Trung Quốc”, giáo sư Dupoint nói.
“Trong khoảng hơn 2 thập kỷ qua, Trung quốc đã biến đổi từ một nước xuất khẩu sang nhập khẩu hơn 55% lượng dầu trong nước. Ngay cả trữ lượng than khổng lồ của Trung Quốc cũng không đáp ứng nổi nhu cầu nội địa”, ông Dupont cho biết thêm.
Hạm đội 7 của Mỹ hiện đang có mặt ở Eo biển Malacca và tại phần lớn khu vực phía tây Thái Bình Dương, cũng là vùng mà Bắc Kinh đang nhòm ngó, theo ông Dupont.
Ông cho rằng tranh chấp giữa Trung Quốc và đồng minh lâu năm Philippines của Mỹ sẽ cho Washington một cơ hội để “tái củng cố mạng lưới đồng minh” trong khu vực.
(Theo http://nguyentandung.org/)


Tờ Sankei Shimbun của Nhật ngày 03/07/2014 đăng tải bài viết có tiêu đề “Biển Đông phát sinh xung đột vũ trang, Trung Quốc sẽ là nước thiệt hại kinh tế nặng nề nhất” cho biết, do mâu thuẫn phát sinh ngoài khơi Biển Đông, Trung Quốc và các nước ven bờ đã xảy ra va chạm, tàu Trung Quốc không ngừng tiến hành đâm va và phun vòi rồng áp suất cao vào tàu Việt Nam, nếu sự việc không chấm dứt nhiều khả năng sẽ phát sinh xung đột vũ trang quy mô nhỏ.


Theo đó, Tập đoàn tài chính nghiên cứu chính sách hải dương Nhật Bản mới đây căn cứ theo giả thiết về một tình huống nguy hiểm như vậy, sau khi các chuyên gia tiến hành thảo luận về vấn đề phòng thủ chuỗi đảo thứ nhất, đưa ra báo cáo về “thiệt hại kinh tế bị ảnh hưởng trước mối đe dọa ngoài khơi Biển Đông”. Báo cáo này cho biết, một khi nền kinh tế thế giới trở nên hỗn loạn thì Trung Quốc sẽ là nước chịu thiệt hại nhiều nhất.
Báo cáo cho biết, nếu Biển Đông phát sinh xung đột, nhóm tàu sân bay của Mỹ sẽ được triển khai gần “chuỗi đảo thứ nhất” tại quần đảo phía tây nam Nhật Bản và quần đảo Philippines.
Trung Quốc sẽ thiết lập “khu vực biển từ chối” trong chuỗi đảo, hạn chế việc vận chuyển của tàu các nước đi qua khu vực này. Đồng thời, tàu và máy bay quân sự Trung Quốc sẽ tiến vào Biển Đông, lập một khu vực biển “chống tiếp cận” nằm giữa chỗi đảo thứ nhất và chuỗi đảo thứ hai – khu vực này sẽ trở thành chiến trường chủ yếu khi phát sinh xung đột giữa Mỹ – Trung Quốc.
Khi đó tàu chở dầu của Nhật Bản từ Vịnh Ba Tư về sẽ buộc qua phải vượt qua Tây Thái Bình Dương, mà tàu chở dầu của Trung Quốc lại đi qua Biển Đông dưới sự hộ tống của tàu chiến Trung Quốc.
Hai chuỗi đảo chiến lược của Mỹ trong việc kiềm chế Trung Quốc trở thành cường quốc hàng hải
Trong bối cảnh như vậy, Mỹ sẽ triển khai chiến lược “kiểm soát ngoài khơi”.
Ở ngoài chuỗi đảo thứ nhất, khả năng tác chiến của quân đội Trung Quốc giảm rõ rệt. Mỹ có thể tuyên bố một khu vực nào đó là vùng cấm hàng hải, tàu thuyền của khu vực này sẽ bị bắt giữ hoặc bắn chìm. Sau đó tàu ngầm tấn công và không quân của các đồng minh sẽ cảnh báo ngăn chặn tàu chở dầu và tàu chở hàng hóa cỡ lớn của Trung Quốc không được phép đi qua.
Do tất cả các bến cảng của Trung Quốc đều được đặt tại Hoa Đông và Biển Đông, do đó không thể sắp xếp được đường lưu thông, đồng thời rơi vào tình trạng thiếu hụt năng lượng nghiêm trọng.
Đồng thời, quân đội Mỹ sẽ phong tỏa eo biển Malacca, ngăn chặn tuyến đường vận tải hàng hải của Trung Quốc. Như vậy, tàu Trung Quốc muốn vượt qua eo biển Panama và Magellan dưới sự kiểm soát của Mỹ sẽ rất khó mà tiến vào Thái Bình Dương.
Chiến lược “kiểm soát ngoài khơi” của Mỹ là tránh phát sinh tấn công vũ trang vào Trung Quốc đại lục, có thể giảm khả năng để leo thang xung đột thành chiến tranh hạt nhân, đồng thời làm cho xung đột chấm dứt dễ dàng hơn.
Washington muốn thông qua chiến lược này hóa giải xung đột trong một cuộc chiến không tiêu hao sức mạnh chiến đấu, và sau cùng là chấm dứt chiến tranh. Cũng có thể nói rằng, Mỹ hoàn toàn không tấn công Trung Quốc, mà là sử dụng ưu thế địa lý ngăn chặn thương mại xuất nhập khẩu, làm suy yếu nghiêm trọng nền kinh tế.
Để đối phó, Bắc Kinh một mặt xây dựng các cơ sở hạ tầng đường ống dẫn khí trên đất liền, mặt khác trong tình huống không thể huy động lực lượng hải quân sẽ thay thế bằng lực lượng cảnh sát biển.
Nhưng có vẻ Trung Quốc đang quá tập trung với đối thủ “số 1″ mà quên mất họ còn phải đối mặt với các đội quân nhỏ nhưng kiên định của các quốc gia đang bị xâm phạm chủ quyền biển như Việt Nam, Philippines, Malaysia…
Dân gian Việt Nam có câu “hai chọi một không chột cũng què”, nếu chỉ đối phó riêng với từng quốc gia thậm chí với cường quốc Mỹ thì Trung Quốc có thể có ưu thế “gần nhà” nhưng trước tình hình Trung Quốc đang gây hấn với quá nhiều quốc gia hiện nay thì có lẽ một kết quả không mấy tốt đẹp đang chờ đợi họ phía trước.
(Theo http://nguyentandung.org/)
Đây là bài phỏng vấn Nguyễn Lương Hải Khôi (Quỹ Nghiên cứu Biển Dông) do Đỗ Thiện của báo Pháp luật TP HCM thực hiện. Tuy nhiên, cho đến ngày 2-7-2014 thì bài vẫn chưa được đăng và người được phỏng vấn vẫn chưa nhận được quyết định nào của tờ báo. Do đó, Nguyễn Lương Hải Khôi nhờ  viet-studies phổ biến đến bạn đọc.

Câu 1: Thưa ông, ông đánh giá thế nào về vai trò của Nhật đối với Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao với Trung Quốc xung quanh vấn đề giàn khoan 981 trái phép trên quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, nhất là khi Nhật là một đồng minh của Mỹ?
Trả lời:Về vai trò của Nhật đối với Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao với Trung Quốc, không khó để mỗi chúng ta có câu trả lời. Chúng ta chỉ cần tưởng tượng chuyện gì sẽ xảy ra ở Châu Á thế kỷ 21 này, nếu chỉ có một cường quốc duy nhất là Trung Quốc, không tồn tại một cường quốc có bề dày lịch sử là Nhật Bản hoặc Nhật Bản chỉ là một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

Tàu đổ bộ Kunisaki của Nhật Bản thăm Đà Nẵng. Lực lượng đại diện các quốc gia tham gia chương trình đối tác Thái Bình Dương 2014 tại Đà Nẵng
Sự tồn tại của Nhật Bản như hiện nay đã là một ích lợi lớn cho Việt Nam và các nước đang phát triển trong khu vực – một quốc gia với vai trò gìn giữ vai trò hòa bình, là đối trọng để kiềm chế các động thái hung hăng gây hấn của Trung Quốc, là động lực kinh tế, và là một nền dân chủ trưởng thành nhất trong cả khu vực.
Điều quan trọng không phải đánh giá vai trò của Nhật đối với Việt Nam trong một sự việc cụ thể là vấn đề giàn khoan Haiyang Shiyou 981 mà là nhận thức được vai trò của Nhật Bản đối với Việt Nam trong cuộc đấu trí tuệ có tính sinh tử trước chiến lược bành trướng tính bằng nhiều thế kỷ của Trung Quốc, không phải chỉ từ bây giờ.
Câu 2: Hiện nay, chính phủ Nhật đã và đang thể hiện quan điểm như thế nào về vấn đề 981? Ông đánh giá thế nào về các động thái đó của Nhật?
Trả lời: Chính phủ Nhật đã công khai ủng hộ Việt Nam, phê pháp mạnh mẽ hành động sai trái của Trung Quốc ở các diễn đàn quốc tế, ở Hội nghị thượng đỉnh an ninh Châu Á (Đối thoại Shangri – La), ở Hội nghị G7 – nơi Việt Nam không có điều kiện tham gia, cử tàu Kunisaki thăm Việt Nam. Việc giúp đỡ về khí tài vật chất đang được xem xét, tuy nhiên còn vướng mắc ở các vấn đề pháp lý của Hiến pháp Nhật Bản.
Tuy vậy, điều chúng ta cần nhận thức là: chúng ta cần Nhật Bản không chỉ cho sự vụ “nhỏ nhặt” là cái dàn khoan này. Nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta chỉ cần sự trợ giúp của Nhật để giải quyết cho “êm xuôi” cái vụ “lình xình ngắn hạn” này, chúng ta sẽ không nhận được gì cả, không chỉ từ Nhật mà còn từ các cường quốc khác. Chúng ta cần Nhật Bản cho một cuộc đấu về mặt trí tuệ trường kỳ và bài bản để trưởng thành và sinh tồn trong một thời đại mới.
Câu 3: Đâu là lĩnh vực mà Việt-Nhật nên tăng cường hợp tác để xây dựng sức mạnh trong thế đối trọng với Trung Quốc?
Trả lời: Không có Việt Nam, Nhật Bản vẫn dư sức để tự vệ. Không có Nhật Bản và thế giới các cường quốc dân chủ khác, Việt Nam không thể tồn tại được trước Trung Quốc. Hợp tác với các nước này để tự lực tự cường, trước hết, đó là nhu cầu nội tại của Việt Nam.
Chúng ta không cần thiết phải hỏi “lĩnh vực” cụ thể để ưu tiên. Nhật Bản là quốc gia duy nhất đã hỗ trợ Việt Nam toàn diện ở hầu hết các lĩnh vực quan trọng: viện trợ kinh tế, kỹ thuật, giáo dục, tư vấn chiến lược phát triển một cách trường kỳ và bài bản. Nhưng, các loại viện trợ này mang lại lợi ích cho Việt Nam hay không, mang lại lợi ích đến mức độ nào, thì hoàn toàn nằm ở phía người nhận. Nếu chỉ nhờ nhận viện trợ mà “hóa rồng” thì cả thế giới này đâu còn quá nhiều “giun dế” đến thế. Cái chúng ta cần băn khoăn, xin nhắc lại, không phải là “lĩnh vực” mà là “cách thức”. “Cách thức” của chúng ta hình thành từ một thể chế lành mạnh, trong sạch, muốn đi vào phát triển thực chứ không phải là nâng cao các con số.
Câu 4: VN nên có động thái gì nếu muốn “nhận 1 phiếu ủng hộ” từ Nhật một cách rõ rệt, mạnh mẽ?
Trả lời: Nếu nói về một “động thái” cần thiết, có lẽ đó nên là một động thái cho thế giới thấy chúng ta đang đi về phía thế giới văn minh, tự do, dân chủ.
Tuy vậy, cái chúng ta cần không chỉ là một động thái, một “chiến thuật” có tính mưu mẹo để “giải quyết” cho “êm xuôi” một tình huống khó khăn (là chuyện giàn khoan 981).
Nếu Trung Quốc ngay lập tức rút giàn khoan vào ngày mai? Rất có thể. Nhưng mối nguy đối với sự tồn vong của dân tộc chúng ta trước trước chiến lược bành trướng của Trung Quốc thì có giảm không? Không.
Trung Quốc sẽ rút giàn khoan thôi. Giống như đã đưa quân pháo vào chốt một vị trí trên bàn cờ để dễ bề bố trí đội hình ở phía khác, khi xong việc rồi thì quân pháo sẽ được rút về vị trí an toàn. Nhưng khi đó, một thế trận mới đã hình thành và thường thì kẻ chơi cờ yếu tay hoặc thiếu thông tin để xử lý sẽ chẳng thể thấy gì.
Giàn khoan này không có vẻ có mục đích kinh tế là khai thác dầu. Và, nếu để khai thác dầu, không ai làm những việc khiến cả thế giới phẫn nộ như thế. Tôi nghĩ đây là hành vi nhắm đến một mục đích chính trị. Mục đích gì? Không phải để gây hấn với Mỹ, làm cho Nhật Bản phải căng mình lên đề phòng. Trên bàn cờ, đây chỉ là mục tiêu phụ. Mục tiêu chính phải nằm ở đâu đó, mà vấn đề lãnh hải, chủ quyền, dầu khí chỉ là cái phông nền của màn kịch “Sơn Đông mãi võ”. Trung Quốc là xứ từ thời Xuân Thu Chiến Quốc đến nay, đời nào cũng để lại sách vở dạy dỗ về “quyền mưu” trong chính trị, kinh tế, đối nhân xử thế… Chúng ta cần hiểu điều này để không bị cuốn vào các màn diễn võ rổn rảng trên phố.
Câu 5: Theo ông, dự báo sắp tới quan hệ Việt – Nhật sẽ ra sao khi quan ngại giàn khoan 981 sẽ là tiền lệ xấu không chỉ cho VN, mà còn cho Nhật?
Trả lời: Câu chuyện giàn khoan kiểu này rất khó xảy ra trên lãnh hải Nhật. Trung Quốc cho công bố kế hoạch này từ tháng 3 năm 2014. Họ còn cần thời gian để kéo giàn khoan này tới đường biên lãnh hải Việt Nam, rồi từ đường biên lãnh hải ấy di chuyển tới vị trí hiện tại. Suốt thời gian đó, Việt Nam đã làm gì? Tôi không được biết thông tin nào về hành động của chúng ta trong giai đoạn này cả. Dường như chỉ đến khi dàn khoan dừng lại và Trung Quốc bố trí xong đội hình tàu chiến bảo vệ thì chúng ta mới lên tiếng.
Nếu là Nhật Bản, tôi nghĩ họ sẽ không làm thế. Nhật Bản sẽ phản đối, hoặc cảnh cáo, ngay khi Trung Quốc mới công bố kế hoạch, sẽ đón tiếp “khách quý” ngay từ đường biên chứ không để khách vào sâu cách đường cơ sở chỉ 120 hải lý như vậy. Cho nên chúng ta không cần phải quan ngại rằng chuyện giàn khoan này có thể lặp lại với Nhật.
Nhật và nhiều cường quốc khác dù không có chủ quyền nhưng có quyền lợi trên Biển Đông. Họ không thể để Trung Quốc nuốt trọn vùng biển này. Nhưng, Việt Nam không nên dựa vào thực tế đó để mong đợi rằng vấn đề Biển Đông “tự nó” sẽ “được giải quyết” bởi ai đó, còn Việt Nam thì chỉ cần “tọa sơn quan hổ đấu” và “được lòng tất cả các bên”.
Còn dự báo quan hệ Việt – Nhật thì rất khó. Những gì Nhật giúp Việt Nam thực ra đã vượt quá khả năng tiêu hóa của Việt Nam rồi. Một ví dụ: Nhật sẵn sàng giúp Việt Nam phát triển “công nghệ cao” nhưng đây không phải là cái mà Nhật “cho” thì Việt Nam “nhận” được. Đó không phải là khẩu súng kíp thời Cao Thắng để bắt chước. Quan hệ Việt Nhật chỉ thực sự giúp Việt Nam phát triển lên một đẳng cấp mới khi Việt Nam tái cấu trúc tiến trình ra quyết định ở cấp chiến lược, xây dựng xã hội dân sự lành mạnh, và một thể chế sạch sẽ khỏi tham nhũng.
(Theo Nguyễn Lương Hải Khôi)
Flag Counter

Sự Thật và Dối Trá

Sự Thật và Dối Trá

XEM NHIỀU

bunhinrom007@gmail.com. Được tạo bởi Blogger.

Lượt Xem