Trung Quốc muốn thách thức trật tự thế giới, mà rõ ràng nhất là nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia.

Những hành động của Trung Quốc từ năm 2012 trở lại đây, như đụng độ với Philippines tại bãi cạn Scarborough, hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 và các dự định giàn khoan khác, hay xây các đảo nhân tạo tại Gạc Ma, bãi Chữ Thập đang là tiêu điểm của dư luận quốc tế.
Trên các phương tiện truyền thông thế giới, có các luồng ý kiến khác nhau về những hành động này. Một bên cho rằng Trung Quốc đang có chính sách xác quyết chủ quyền và thiên nhiều hơn về các hành động cứng rắn. Một bên cho rằng Trung Quốc đang có ý định thay đổi lãnh thổ về mặt địa lý - "bành trướng lãnh thổ" (territorial expansion).
Xét bối cảnh lịch sử, khái niệm "bành trướng lãnh thổ" luôn gắn liền với sự xuất hiện của những quốc gia, nhờ một số yếu tố nào đó, đạt được ưu thế về nguồn lực so với các nước khác. Những nước này không hài lòng với trật tự hiện tại, và tìm cách thay đổi phù hợp với lợi ích của mình, thường thì bằng vũ lực. Kết thúc của quá trình này là xung đột và chiến tranh, mà ví dụ gần đây nhất là Chiến tranh thế giới 2.
Liệu lịch sử có khả năng lặp lại đang vừa là câu hỏi, vừa là nỗi ám ảnh. Vì từ lúc Bắc Kinh mở cửa và cải cách, cuộc tranh luận của các học giả thế giới về một viễn cảnh "Trung Quốc mạnh" luôn bị chia rẽ bởi hai trường phái. Một bên cho rằng sự trỗi dậy của các quốc gia trong lịch sử đều mang tính quy luật, thể hiện qua công thức: mạnh về kinh tế, tăng cường quân sự, mở rộng ảnh hưởng - lãnh thổ, đòi quyền bá chủ. Trung Quốc như một sức mạnh mới của hiện tại và tương lai sẽ không ngoại lệ: Bắc Kinh sẽ không còn là một cường quốc nguyên trạng, và "bành trướng lãnh thổ" là chỉ dấu đầu tiên.
Quan điểm còn lại cho rằng Trung Quốc có thể là một trường hợp vượt qua những nguyên tắc thông thường của lịch sử. Tức là không chiến tranh, không xung đột, thậm chí vẽ ra viễn cảnh hợp tác và thịnh vượng. Việc chính phủ Trung Quốc kêu gọi "trỗi dậy (sau đó là phát triển) hòa bình" từ 2002, cùng với các chính sách hòa dịu, đón đầu, tìm kiếm hợp tác hơn là đe dọa và thách thức chiến tranh đã có lúc khiến người ta tin vào phát ngôn của nước này.
TQ hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của VN. Ảnh: Hoàng Sang
TQ hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của VN. Ảnh: Hoàng Sang
Khi vụ giàn khoan Hải Dương 981 xảy ra, những học giả Trung Quốc lên tiếng rằng "bành trướng lãnh thổ" là một ngôn từ xa với thực tế. Một mặt, họ vin vào lịch sử mà họ cho là "không chối cãi" của Trung Quốc tại biển Đông, với những bằng chứng từ mơ hồ thời Tống, thời Đường nào đó. Từ đó lớn tiếng rằng xác quyết chủ quyền là hành động hợp lý của một quốc gia bình thường.
Tuy nhiên, những hành động vừa qua của Bắc Kinh tại biển Đông, cũng như kinh nghiệm sâu sắc từ lịch sử cho thấy rõ ràng bản chất vấn đề là "bành trướng lãnh thổ", chứ không thể là xác quyết chủ quyền. Hơn nữa, nó được tiến hành theo cách thức thiếu văn minh, nguy hiểm và hoàn toàn đi ngược lại mọi quy tắc pháp lý được cộng đồng quốc tế chấp nhận.
Thứ nhất, sự kiện giàn khoan không chỉ là câu chuyện của bây giờ, nó đã bắt nguồn từ rất lâu, mà các sự kiện gần đây là vào 1974 và 1988, khi Trung Quốc mang tàu chiến đánh chiếm Hoàng Sa và Gạc Ma của Việt Nam. Đây là sự thật lịch sử, không thể ngụy biện như phía Bắc Kinh tuyên truyền. Lấy một việc sai quấy để biện minh cho một việc làm khác (cũng sai nốt) thì kết quả không thể nào đúng.
Hơn nữa, chủ quyền của một quốc gia thường được phân định bằng đường biên giới. Nó có kinh độ, vĩ độ, được đo đạc, phân định hay đàm phán với các nước xung quanh thông qua thỏa thuận hay dựa trên một quy tắc quốc tế nào đó. Cách TQ xác lập chủ quyền trên biển Đông đi ngược lại tất cả các điều kiện này. Bản đồ 9 đoạn trước đây không có kinh độ, vĩ độ, thì bản đồ 10 đoạn vừa được công bố càng cho thấy đây chẳng qua là một kế hoạch bành trướng lãnh thổ, bất chấp đó là đảo, đá, hay vùng biển lân cận.
Cuối cùng các hành động xác quyết gần đây đều lấy hình thức dân sự làm vỏ bọc. Nhưng đằng sau đó là xu thế sẵn sàng sử dụng vũ lực, thậm chí cả khi những hành động này gây nguy hiểm cho những người "tay không tấc sắt" từ các nước láng giềng. Những vụ đâm chìm tàu, bắt và xua đuổi ngư dân Việt Nam là bằng chứng sống.
Trung Quốc muốn thách thức trật tự thế giới, mà rõ ràng nhất là nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia. Trong khi bản đồ 9 đoạn, nói như một học giả Trung Quốc, là một sự ỡm ờ về mặt chiến lược để tạo lợi thế khi đàm phán, thì những hành động trên thực địa cho thấy một ý định khác rõ ràng hơn. Đó là tạo sự "đã rồi" bằng vũ lực và cưỡng chế, khi những rao giảng về mặt trận tuyên truyền đang gặp phải chống đối dữ dội. Từ đó hướng đến "bắt nạt" các nước có tranh chấp, từng nước một, và cuối cùng là một sự "kẻ cả" trong đàm phán khi Trung Quốc bỏ 9 làm 10, gia giảm những yêu sách của bản đồ 10 thành 9 hay 8 đoạn nhằm cho thấy đã có sự nhân nhượng từ nước lớn.
Như vậy, những gì đang và sẽ diễn ra trên biển Đông của Trung Quốc không thể gọi là hành động "xác quyết chủ quyền". Vì làm gì có một thứ chủ quyền vô giới hạn, dựa trên sự tự "huyễn hoặc" và ép người khác phải tuân theo bằng sức mạnh của cơ bắp. Đó phải là hành động "bành trướng lãnh thổ" bằng quân sự và vũ lực, đi cùng với tiếng "kèn trống" của giới dân sự, khoa học, và báo chí nước này.
(Theo Vũ Quỳnh Vietnamnet)

“... Có 2 ca nô cùng lực lượng trên tàu Trung Quốc đang tiến về tàu cháu, làm sao đây cậu…” - Đó là câu cuối cùng của Thuyền trưởng tàu QNg 94912-TS (tàu bị Trung Quốc bắt giữ) nói qua điện đàm với người cậu đang trên con tàu cạnh đó..

Tàu cá QNg 94913-TS cập bờ trong nỗi cay đắng bị uy hiếp trên vùng biển Việt Nam.
Tàu cá QNg 94913-TS cập bờ trong nỗi cay đắng bị uy hiếp trên vùng biển Việt Nam.

Ngay từ mờ sáng ngày hôm nay (5/7), hàng trăm người dân Phổ Thạnh và gia đình những ngư dân trên tàu cá vừa bị Trung Quốc bắt giữ ngồi chờ ở đầu cảng Sa Huỳnh. Khi chiếc tàu QNg 94913-TS dần tiến về, cũng là lúc những giọt nước mắt rơi dài.
 
Vừa cập cảng Sa Huỳnh, gia đình 2 ngư dân Trần Xi và Nguyễn Ngọc Quý ùa lên tàu, ôm lấy chồng và cha vừa thoát khỏi sự hung hãn của lực lượng có vũ trang phía Trung Quốc.
 
Thuyền trưởng tàu QNg 94913-TS kể lại: “Khoảng 7h00 ngày 3/7, khi 2 tàu đang thả lưới giã cào trên vùng biển vịnh Bắc Bộ, lúc này xuất hiện tàu Trung Quốc (số hiệu 3103) tăng tốc, tiến sát và quần thảo quanh 2 tàu cá chúng tôi. Một lúc sau, tôi quan sát thấy tàu Trung Quốc dừng gần tàu QNg 94912-TS rồi thả 2 ca nô máy lao đến tàu cháu Tèo”.
Thuyền trưởng Trần Xi (áo trắng) và ngư dân Nguyễn Ngọc Quý vẫn còn thẫn thờ khi kể lại sự việc.
Thuyền trưởng Trần Xi (áo trắng) và ngư dân Nguyễn Ngọc Quý vẫn còn thẫn thờ khi kể lại sự việc.
Ngay lập tức, Thuyền trưởng Trần Xi quay vào buồng lái để điện đàm hỏi tình hình thì bất ngờ bộ đàm I-com phát lên lời của ngư dân Võ Tấn Tèo (thuyền trưởng tàu QNg 94912-TS, con chủ tàu Võ Đạt) đang cầu khẩn : “Cậu ơi, bọn chúng chĩa súng về tàu cháu như muốn bắn, có 2 ca nô cùng lực lượng trên tàu Trung Quốc đang tiến về tàu cháu, làm sao đây cậu…”.
Bên cạnh hành động tấn công, tàu Trung Quốc thường xuyên chạy trước mũi tàu cá QNg 94912-TS cố ý để tàu cá Quảng Ngãi va chạm và quay phim, chụp ảnh. Thuyền trưởng Xi hướng dẫn cháu Tèo: “Cháu giảm tốc độ, chứ lỡ va chạm vào tàu bọn chúng (Trung Quốc) thì nó có cớ bắn mình đó, rồi nó quay phim vu khống mình tông nữa”, bộ đàm I-com bên tàu QNg 94912-TS bỗng im lặng và mất liên lạc.
Những người mẹ, người vợ ngóng chờ tin của người dân ướt đẫm trong nước mắt.
Những người mẹ, người vợ ngóng chờ tin trong nước mắt.
Bà Trần Thì Dề - mẹ ngư dân Lê Văn Thun khóc ngất khi con bị Trung Quốc bắt giam nơi xứ Tàu.
Bà Trần Thì Dề - mẹ ngư dân Lê Văn Thun khóc ngất khi hay con bị Trung Quốc bắt giam.

Lo sợ tàu Trung Quốc tiếp tục tấn công, thuyền trưởng Trần Xi quyết định cho tàu chạy cách xa khoảng 4 hải lý để giữ khoảng cách an toàn, rồi thả neo dừng lại theo dõi tình hình bên tàu QNg 94912-TS. Ngư dân Trần Xi chứng kiến tàu QNg 94912-TS bị khống chế chạy về hướng đảo Hải Nam với sự áp tải của tàu quân sự Trung Quốc.
 
“Tôi liên tục kết nối bộ đàm I-com với cháu Tèo nhưng đều không được. Lúc này tôi quá bối rối, liền điện đàm thông báo sự việc cho hơn 20 tàu cá hoạt động khu vực vịnh Bắc Bộ cảnh giác. Chờ mãi cho đến tối, mọi tín hiệu và chiếc tàu QNg 94912-TS cùng 6 ngư dân vẫn biệt tăm. Tôi cùng ngư dân Quý đành trở về…”, giọng thuyền trưởng Xi dần nặng trĩu khi kể lại sự việc.
Con trai ngư dân Trần Xi mừng tủi khi cha trở về an toàn.
Con trai ngư dân Trần Xi mừng tủi khi cha trở về.
 
Cả cuộc đời bám biển ở vịnh Bắc Bộ, chủ tàu Võ Đạt chưa bao giờ bị tàu Trung Quốc tấn công, bắt bớ như lần này. Cảm giác con vừa bị bắt và vừa mất tàu cá gần 2 tỷ đồng, ông Đạt chỉ biết câm lặng, dần ứa lệ trên khuôn mặt rám nắng.
Ông Võ Đạt bày tỏ: “Phía Trung Quốc thật quá ngang ngược, khi vu khống tàu của gia đình tôi xâm phạm lãnh hải. Vị trí bị bọn Trung Quốc tấn công, vây bắt thuộc vùng vịnh Bắc Bộ - ngư trường truyền thống mà tôi gắn bó hàng chục năm qua. Giờ này, mọi thông tin về con trai cùng 5 ngư dân đều vô vọng. Tôi chỉ biết trông cậy vào sự can thiệp của chính quyền thôi”.
Sau khi về tới cảng Sa Huỳnh, 2 ngư dân Trần Xi và Nguyễn Ngọc Quý làm việc với các cơ quan chức năng để các cơ quan tham mưu các cấp can thiệp đưa 6 ngư dân Phổ Thạnh trở về an toàn.
(Theo dantri.com.vn)

Tờ Bloomberg dẫn lời Giáo sư Carl Thayer, học viện Quốc phòng Úc, cho rằng động thái bắt giữ 6 ngư dân Việt Nam của Trung Quốc mới đây "đầu độc thêm bầu không khí hiện nay" giữa hai nước.

Trung Quốc vẫn triển khai rất nhiều tàu quanh khu vực hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981.
Trung Quốc vẫn triển khai rất nhiều tàu quanh khu vực hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981.
Tờ Bưu điện Hoa Nam của Hồng Kông cho biết các ngư dân Việt Nam bị các tàu tuần tra của Trung Quốc bắt vào ngày thứ năm vừa qua và vị trí các ngư dân bị bắt giữ vẫn còn gây tranh cãi.
Tờ báo này dẫn lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi cho biết vụ bắt giữ xảy ra ở cách đảo Hải Nam 12km, thuộc lãnh hải của Trung Quốc! Và ông Hồng Lỗi cho biết thêm giới chức Trung Quốc đang điều tra vụ việc “theo luật pháp”.
Tuy nhiên ông Nguyễn Kỳ - Chủ tịch UBND xã Phổ Thạnh huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, nơi cư trú của 6 ngư dân cho biết, tàu cá của 6 ngư dân đã bị tàu Trung Quốc tấn công và vây bắt tại khu vực vùng biển Vịnh Bắc Bộ. Và khu vực này là ngư trường đánh bắt truyền thống của ngư dân Việt Nam.
Trước động thái mới nhất của Trung Quốc trên, giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Biển Đông, làm việc ở Học viện Quốc phòng Úc, cho biết qua điện thoại với hãng tin Bloomberg rằng, vụ việc “đầu độc thêm bầu không khí hiện nay”. “Đây là hành động đơn phương trong khu vực Việt Nam có chủ quyền rõ ràng hoặc đang còn trong tranh chấp.”
Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông và ngày càng có những hành động hiếu chiến hơn để khẳng định tuyên bố ngang ngược, phi lý đó. Ngư dân Việt Nam trước đây đã không ít lần bị phía Trung Quốc bắt giữ. Nhưng đây là lần bắt giữ đầu tiên kể từ khi Trung Quốc triển khai trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam từ đầu tháng 5 vừa qua.
(Theo dantri.com.vn)

Đại sứ Lê Hoài Trung, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực của Việt Nam tại Liên hợp quốc vừa tiếp tục gửi thư lên Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon đề nghị lưu hành hai văn bản nêu rõ lập trường của Việt Nam về việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Tài liệu cũng nêu rõ Trung Quốc đã sử dụng vũ lực 2 lần xâm chiếm trái phép Hoàng Sa. Việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền là hành vi bất hợp pháp và không thể là cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền.
Tàu Trung Quốc (trái) hung hăng đâm tàu Việt Nam trên Hoàng Sa - vùng biển mà mọi chứng cứ lịch sử đều khẳng định thuộc chủ quyền của Việt Nam
Tàu Trung Quốc (trái) hung hăng đâm tàu Việt Nam trên Hoàng Sa - vùng biển mà mọi chứng cứ lịch sử đều khẳng định thuộc chủ quyền của Việt Nam
Tại văn bản thứ nhất, Việt Nam cho rằng Trung Quốc đang làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông bằng các hành động vi phạm luật pháp quốc tế do hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam mà tại đó Việt Nam được hưởng các quyền của một quốc gia ven biển theo qui định của Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982. Ngoài ra, để bảo vệ hoạt động bất hợp pháp của giàn khoan trên, Trung Quốc đã đưa hơn 100 tàu hộ tống, trong đó có tàu quân sự vào vùng biển của Việt Nam. Các tàu Hải cảnh của Trung Quốc liên tục chủ động đâm húc, bắn vòi rồng vào các tàu thực thi pháp luật của Việt Nam, thậm chí còn đâm chìm một tàu cá của ngư dân Việt Nam.
Văn bản trên cho biết tất cả các nỗ lực và thiện chí của Việt Nam để giải quyết tình hình căng thẳng thông qua đối thoại và các biện pháp hòa bình khác đã liên tục bị Trung Quốc khước từ.
Văn bản thứ hai đề cập tới chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và hoàn toàn bác bỏ cả trên thực tế cũng như pháp lý yêu sách không có cơ sở pháp lý và lịch sử về chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) nêu trong văn bản của Đại biện Phái đoàn đại diện thường trực nước CHND Trung Hoa gửi Tổng thư ký LHQ ngày 22-5 và 9-6.
Trong văn bản thứ hai này, Bộ Ngoại giao nước ta đã chỉ rõ các tư liệu lịch sử không thống nhất với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa; khẳng định những tài liệu Trung Quốc dẫn chiếu nhằm chứng minh cho cái gọi là “chủ quyền” của họ đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là không có nguồn gốc rõ ràng, không chính xác và được Trung Quốc diễn giải một cách tùy tiện. Các tài liệu này không chứng tỏ rằng Trung Quốc đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa khi quần đảo còn là lãnh thổ vô chủ. Ngược lại, các ghi chép lịch sử cho thấy chủ quyền của Trung Quốc chưa bao giờ có quần đảo Hoàng Sa.
Trong khi đó, Việt Nam đã cung cấp công khai các tài liệu lịch sử xác thực cho thấy Việt Nam đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ khi quần đảo là lãnh thổ vô chủ. Tài liệu cũng nêu rõ Trung Quốc đã sử dụng vũ lực hai lần xâm chiếm trái phép Hoàng Sa. Cụ thể, năm 1956, lợi dụng lúc Pháp rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc đã xâm chiếm nhóm đảo phía Đông của Hoàng Sa và bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa phản đối mạnh mẽ. Sau đó, năm 1974, lợi dụng tình hình chiến tranh ở Việt Nam, Trung Quốc đã tấn công và giành quyền kiểm soát Hoàng Sa từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chiếm đóng bằng vũ lực toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.
Từ góc độ luật pháp quốc tế, việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền là hành vi bất hợp pháp và không thể là cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền. Vì vậy, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa vẫn được duy trì và không bị thay thế bởi sự chiếm đóng bằng vũ lực của Trung Quốc. Bị vong lục ngày 12-5-1988 của Trung Quốc – một văn bản chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng khẳng định rõ một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế là “xâm lược không thể sinh ra chủ quyền” đối với một vùng lãnh thổ. Không có quốc gia nào trên thế giới công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.
Văn bản thứ hai còn khẳng định Việt Nam chưa bao giờ công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, vạch rõ việc Trung Quốc đã cố tình xuyên tạc lịch sử và diễn giải sai lịch sử khi viện dẫn Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 và một số tài liệu, ấn phẩm được xuất bản ở Việt Nam trước năm 1975 để củng cố yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Công thư của cố
Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn không nhắc gì đến chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa.
Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng sự thật lịch sử đó và nghiêm túc đàm phán với Việt Nam về vấn đề quần đảo Hoàng Sa. Như vậy, đây là lần thứ tư Việt Nam gửi thư đề nghị Tổng thư ký LHQ lưu hành các tài liệu của Việt Nam khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và liên quan đến việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
(Theo http://nguyentandung.org/)

Trong chuyên mục “Giải mã tình hình quân sự” của Đài truyền hình Bắc Kinh, chuyên gia quân sự Trung Quốc Lương Phương đã phân tích những nguyên nhân Trung Quốc cần phải đột phá qua chuỗi đảo thứ nhất và thứ 2, đồng thời đưa ra những cảnh báo và các biện pháp thực hiện.

Hiện nay, Mỹ đang xây dựng hàng loạt căn cứ hải quân, không quân ở 2 chuỗi đảo chiến lược, nắm giữ toàn bộ các vị trí chiến lược ở Thái Bình Dương và không chế tất cả các cụm đảo, vùng biển, eo biển và các luồng đường huyết mạch, biến chúng trở thành những đầu cầu chiến lược để Mỹ xây mộng bá chủ châu Á – Thái Bình Dương.
“Chuỗi đảo” là một bộ phận trong lý luận chiến lược địa lý hình thành trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Khái niệm “chuỗi đảo” được cựu ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles đưa ra lần đầu tiên vào năm 1951. Đầu tiên, nó được Mỹ sử dụng trong chiến lược đối phó với Liên Xô, đặc biệt là ngăn chặn tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương của họ.
Trung Quốc đang xây dựng biên đội tàu sân bay để đối chọi với tàu sân bay Mỹ
Chuỗi đảo thứ nhất được chia làm 3 bộ phận nối liền nhau, bắt đầu từ phía bắc với quần đảo Aleutian, quần đảo Kuril, quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, mắt xích ở giữa chính là đảo Đài Loan, nối tiếp xuống phía nam là quần đảo Philippines, quần đảo Indonesia.
Còn chuỗi đảo thứ 2 chạy từ bắc đến nam, bắt đầu ở phía bắc bởi đảo Honshu của Nhật Bản, quần đảo Ogasawara, quần đảo Iwo Jima, quần đảo Mariana và cuói cùng là quần đảo Palau. Trong chuỗi đảo này có một mắt xích rất quan trọng, đó chính là đảo Guam – một căn cứ quân sự rất quan trọng của Mỹ.
Phía sau 2 chuỗi đảo này còn có cụm căn cứ quân sự rất lớn đóng tại đảo Hawaii – 1 trong 2 tiểu bang nằm ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ (cùng với Alaska). Đây là trung tâm đầu não của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương và cũng đại bản doanh của lực lượng dự bị chiến lược Mỹ. Căn cứ hải quân nổi tiếng Trân Châu Cảng là căn cứ hải quân lớn nhất, có vị trí địa lý quan trọng nhất và cũng là nơi đặt trụ sở của hạm đội Thái Bình Dương.
Bản đồ thể hiện chuỗi đảo thứ nhất và thứ 2 của Mỹ
Căn cứ Smith trên đảo Hawaii chính là nơi đặt trụ sở Bộ tư lệnh Thái Bình Dương và Bộ chỉ huy lực lượng hải quân đánh bộ. Bộ chỉ huy lục quân Thái Bình Dương đóng tại Fort Shafter, còn Bộ chỉ huy không quân Thái Bình Dương đóng ở căn cứ không quân Hickam. Ngoài ra, đảo Midway và đảo Johnston cũng có các sân bay và căn cứ hải quân quan trọng.
Hiện nay, tổng số quân Mỹ đóng tại châu Á – Thái Bình Dương vào khoảng 150.000 quân, trong đó lục quân là 50.000, bao gồm 1 tập đoàn quân và 2 sư đoàn; không quân có khoảng 39.000 người, biên chế thành 4 liên đội (25 chi đội) với 370 máy bay các loại; hải quân và hải quân đánh bộ có 60.000 quân, được biên chế 1 tàu sân bay hạt nhân, 19 chiến hạm và 390 máy bay.
Khi bàn đến vấn đề vì sao phải xuyên phá qua chuỗi đảo thứ nhất và chuỗi đảo thứ 2, chuyên gia Lương Phượng nói, nguyên nhân đầu tiên xuất phát từ yêu cầu phát triển của Trung Quốc. Hiện nay mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc 90% là thông qua con đường vận tải biển. Tuyến đường phía Nam chủ yếu là nhập khẩu quặng sắt từ Australia và các tuyến đường phía tây chủ yếu nhập khẩu dầu chất lượng cao từ Trung Đông.
Để đảm bảo thông suốt 2 tuyến đường đó, Trung Quốc phải đột phá qua chuỗi đảo thứ nhất, khai thông tuyến đường qua eo biển Malacca và Ấn Độ Dương. Đây chính là một yêu cầu tối quan trọng đặt ra cho quân đội Trung Quốc, bảo đảm cho đất nước duy trì đà phát triển kinh tế bền vững trong tương lai.
Hải quân Mỹ đang lắp đặt tên lửa hành trình Tomahawk trên tàu ngầm
Nguyên nhân thứ 2 mà ông Lương Phương đề cập đến là xuất phát từ yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia và chiều sâu phòng ngự trên biển. Cải cách, mở cửa đã hình thành chuỗi trung tâm kinh tế duyên hải rất mạnh của Trung Quốc như Quảng Châu, Thâm Quyến, Chiết Giang, Thượng Hải…,  chiếm tỷ trọng rất lớn trong nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, xét về góc độ quân sự thì các khu trung tâm kinh tế ven biển rất yếu ớt trước sự tấn công của các đối thủ. Ví dụ như vũ khí dẫn đường tấn công chính xác tầm xa của quân đội Mỹ có vai trò rất quan trọng trong chiến tranh hiện đại. Tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm có phạm vi tấn công bao trùm 60% diện tích địa cầu, hoặc tên lửa hành trình Tomahawk phóng từ tàu ngầm lớp Virginia có tầm bắn xa tới 2500km. Đây chính là mũi kiếm sắc bén của Mỹ ẩn nấp sau 2 chuỗi đảo, rình rập tấn công Trung Quốc.
Điều này có nghĩa là người Mỹ chẳng cần tiến vào phạm vi của chuỗi đảo thứ nhất mà chỉ cần đứng ngoài ranh giới của chuỗi đảo này, từ hải phận quốc tế trực tiếp tấn công khu vực duyên hải đông nam Trung Quốc, thậm chí là tận sâu trong Đại Lục. Điều này có ảnh hưởng vô cùng lớn đối với chiến lược an ninh quốc gia của Trung Quốc.
Tên lửa Đông Phong DF-21D - sát thủ tàu sân bay của Trung Quốc
Ông Lương Phương cho biết, hiện nay Trung Quốc mới chỉ mon men trong phạm vi chuỗi đảo thứ nhất, điều này là không đủ đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia. Hải quân Trung Quốc cần xuyên phá quá chuỗi đảo thứ nhất, tiến ra biển xa và rất xa để bảo vệ lợi ích quốc gia, đây cũng chính là đã đẩy các mối đe dọa ra xa lãnh thổ Trung Quốc.
Chính vì vậy, mở rộng chiều sâu phòng ngự trên biển, phát triển các phương tiện tác chiến cỡ lớn và các loại vũ khí tấn công chính xác tầm xa là vô cùng quan trọng để chống lại sự uy hiếp từ các chuỗi đảo của đối phương. Thời gian qua, việc Trung Quốc phát triển tàu sân bay, tàu ngầm hạt nhân chiến lược, tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm, tên lửa đạn đạo chống tàu sân bay… chính là nhằm mở rộng chiều sâu phòng ngự trên biển, đẩy các mối đe dọa ra xa lãnh thổ.
(Theo nguyentandung.org)

Căng thẳng ngoài Biển Đông không ngừng gia tăng, các nước láng giềng trong khu vực đều ở trong trạng thái nguy hiểm. Nếu Trung – Việt phát sinh xung đột, tuyến đường thương mại tại Biển Đông theo đó cũng bị gián đoạn, kéo theo nền kinh tế khu vực ASEAN thậm chí là thế giới cũng bị ảnh hưởng không hề nhỏ.

Theo phương tiện truyền thông Singapore, tuyến đường hàng hải trên Biển Đông là một trong những tuyến đường thương mại nhộn nhịp nhất trên thế giới và có nguy cơ trở thành một chiến trường trên thế giới. Cùng với vấn đề chủ quyền ngày càng kịch liệt ngoài Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, tuyến đường hàng hải khu vực này chắc chắn cũng bị ảnh hưởng, đây là một vấn đề lớn cần được quan tâm.
Tuy nhiên, theo chuyên gia phân tích thuộc công ty tư vấn vận tải biển Drewry Shipping Consultants ở Singapore – Krishna cho biết, Trung Quốc – Việt Nam nếu phát sinh xung đột, nền kinh tế Trung Quốc tất nhiên sẽ phải gánh chịu tổn thất nặng nề nhất, do đó đây không phải là phương sách cuối cùng của Trung Quốc, Trung Quốc sẽ không đưa ra hành động nguy hiểm như vậy.

Dòng chảy thương mại dầu thô tại Biển Đông năm 2011 cho thấy quy mô và tầm quan trọng của tuyến hàng hải biển Đông, nếu có xung đột, Trung Quốc sẽ là nước chịu thiệt hại nhiều nhất
Krishna nói: “Nếu (tuyến đường hàng hải) gặp phải một sự trở ngại hoặc can thiệp nào đó, thì đều không có lợi cho Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc hoặc Đài Loan… nhưng tôi không lo lắng về vấn đề này. Tôi cho rằng tình huống như vậy sẽ không xảy ra”.
Krishna cho rằng, tuyến đường hàng hải tại Biển Đông đại đa số đều cập bến Trung Quốc hoặc bắt nguồn từ Trung Quốc, nếu xung đột xảy ra, sẽ làm ảnh hưởng đến tuyến đường thương mại, và trong tất cả các quốc gia các tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển này, thì Trung Quốc là nước sẽ chịu thiệt hại nhiều nhất.
Ông Shivaji Das, Phó Chủ tịch công ty tư vấn Frost and Sullivan, có trụ sở tại Singapore cho biết, nhìn từ lịch sử thế giới cận đại, mối đe dọa của tự do hàng hải đa phần đến từ các hoạt động cướp biển, và chiến tranh sẽ làm ảnh hưởng đến tuyến đường thương mại tại Biển Đông, mà ông lại cho rằng “tình huống như vậy sẽ không xảy ra vì đối với mỗi quốc gia, tuyến đường thương mại biển là rất quan trọng”.
Ông nói: “Mỗi quốc gia có vùng đặc quyền kinh tế riêng, nhưng họ vẫn cho phép các tàu tự do qua lại. Tự do hàng hải sẽ không bị ảnh hưởng trừ khi khu vực phát sinh xung đột”.
Các phần tử vũ trang miền Bắc Iraq gần đây tăng cường tiếp cận Thủ đô Baghdad, khiến cho giá dầu toàn cầu tăng cao. Biển Đông được cho là con đường vận chuyển dầu khí chủ yếu, mặc dù tình hình lãnh thổ tăng cao, nhưng vẫn chưa đủ làm ảnh hưởng đến giá dầu thế giới.
(Theo http://nguyentandung.org/)

Một cuộc xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và các đồng minh Châu Á của Mỹ – chẳng hạn như Philippines – là có thể xảy ra, bất chấp quan hệ kinh tế sâu đậm giữa các nước này với Bắc Kinh, một chuyên gia phân tích an ninh người Úc bình luận.

Tàu sân bay USS George Washington của Hạm đội 7 Hải quân Mỹ đang di chuyển gần đảo Guam
Tàu sân bay USS George Washington của Hạm đội 7 Hải quân Mỹ đang di chuyển gần đảo Guam
Trung Quốc có thể sẽ sẵn sàng chịu rủi ro về mặt tài chính vì nước này đang cố gắng thống trị vùng biển đang có tranh chấp với các nước láng giềng và thách thức ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực, tờ The Philippines Star dẫn lời Giáo sư Alan Dupont, chuyên gia nghiên cứu an ninh quốc tế thuộc Trường Đại học New South Wales (Úc), bình luận.
“Đừng quên rằng ngay cả quan hệ giao thương chặt chẽ giữa Anh và Đức hồi đầu thế kỷ 20 đã không ngăn được họ đánh nhau vào năm 1914”, Giáo sư Dupont nhận định, hàm ý muốn đề cập đến Thế chiến thứ nhất.
Ông cũng dẫn nghiên cứu mới đây của Georgetown, một trong những trường đại học uy tín nhất nước Mỹ, cho rằng các quốc gia Đông Á như Trung Quốc và Nhật Bản sẽ chấp nhận chịu thiệt hại về kinh tế, chứ không để mất cái họ gọi là chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
“Sẽ là sai lầm nếu cho rằng mức độ sâu đậm của các mối quan hệ thương mại là một sự đảm bảo hay là biểu hiện của hòa bình”, Giáo sư Dupont nói
Chẳng hạn, đối với Philippines, Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại quan trọng nhất của đảo quốc này, lớn thứ 3 sau Mỹ và Nhật, theo ông Dupont. Trung Quốc cũng là nước đứng thứ 9 về nguồn đầu tư nước ngoài và thứ 4 về lượng du khách đến Philippines.
Ông Micah Zenko, một nhà phân tích tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Mỹ (CFR), được tạp chí Foreign Policy (Mỹ) trích dẫn nhận định rằng chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ không là điều ” được tính toán từ trước,” nhưng có thể đến từ nhiều căng thẳng chồng chất.
“Mỹ có thể bị lôi kéo vào một cuộc chiến giành chủ quyền lãnh thổ mà Trung Quốc đang góp mặt, đặc biệt là kể từ khi Washington ký hiệp ước phòng thủ song phương với Nhật và Philippines”, chuyên gia này cảnh báo.
Zenko nói các nước liên quan chỉ có thể tránh chiến tranh nếu họ đưa ra được những giải thích về hành động của mình tại các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ).
“Tình trạng thiếu hụt tài nguyên là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến các hành động quân sự đơn phương của Trung Quốc”, giáo sư Dupoint nói.
“Trong khoảng hơn 2 thập kỷ qua, Trung quốc đã biến đổi từ một nước xuất khẩu sang nhập khẩu hơn 55% lượng dầu trong nước. Ngay cả trữ lượng than khổng lồ của Trung Quốc cũng không đáp ứng nổi nhu cầu nội địa”, ông Dupont cho biết thêm.
Hạm đội 7 của Mỹ hiện đang có mặt ở Eo biển Malacca và tại phần lớn khu vực phía tây Thái Bình Dương, cũng là vùng mà Bắc Kinh đang nhòm ngó, theo ông Dupont.
Ông cho rằng tranh chấp giữa Trung Quốc và đồng minh lâu năm Philippines của Mỹ sẽ cho Washington một cơ hội để “tái củng cố mạng lưới đồng minh” trong khu vực.
(Theo http://nguyentandung.org/)


Tờ Sankei Shimbun của Nhật ngày 03/07/2014 đăng tải bài viết có tiêu đề “Biển Đông phát sinh xung đột vũ trang, Trung Quốc sẽ là nước thiệt hại kinh tế nặng nề nhất” cho biết, do mâu thuẫn phát sinh ngoài khơi Biển Đông, Trung Quốc và các nước ven bờ đã xảy ra va chạm, tàu Trung Quốc không ngừng tiến hành đâm va và phun vòi rồng áp suất cao vào tàu Việt Nam, nếu sự việc không chấm dứt nhiều khả năng sẽ phát sinh xung đột vũ trang quy mô nhỏ.


Theo đó, Tập đoàn tài chính nghiên cứu chính sách hải dương Nhật Bản mới đây căn cứ theo giả thiết về một tình huống nguy hiểm như vậy, sau khi các chuyên gia tiến hành thảo luận về vấn đề phòng thủ chuỗi đảo thứ nhất, đưa ra báo cáo về “thiệt hại kinh tế bị ảnh hưởng trước mối đe dọa ngoài khơi Biển Đông”. Báo cáo này cho biết, một khi nền kinh tế thế giới trở nên hỗn loạn thì Trung Quốc sẽ là nước chịu thiệt hại nhiều nhất.
Báo cáo cho biết, nếu Biển Đông phát sinh xung đột, nhóm tàu sân bay của Mỹ sẽ được triển khai gần “chuỗi đảo thứ nhất” tại quần đảo phía tây nam Nhật Bản và quần đảo Philippines.
Trung Quốc sẽ thiết lập “khu vực biển từ chối” trong chuỗi đảo, hạn chế việc vận chuyển của tàu các nước đi qua khu vực này. Đồng thời, tàu và máy bay quân sự Trung Quốc sẽ tiến vào Biển Đông, lập một khu vực biển “chống tiếp cận” nằm giữa chỗi đảo thứ nhất và chuỗi đảo thứ hai – khu vực này sẽ trở thành chiến trường chủ yếu khi phát sinh xung đột giữa Mỹ – Trung Quốc.
Khi đó tàu chở dầu của Nhật Bản từ Vịnh Ba Tư về sẽ buộc qua phải vượt qua Tây Thái Bình Dương, mà tàu chở dầu của Trung Quốc lại đi qua Biển Đông dưới sự hộ tống của tàu chiến Trung Quốc.
Hai chuỗi đảo chiến lược của Mỹ trong việc kiềm chế Trung Quốc trở thành cường quốc hàng hải
Trong bối cảnh như vậy, Mỹ sẽ triển khai chiến lược “kiểm soát ngoài khơi”.
Ở ngoài chuỗi đảo thứ nhất, khả năng tác chiến của quân đội Trung Quốc giảm rõ rệt. Mỹ có thể tuyên bố một khu vực nào đó là vùng cấm hàng hải, tàu thuyền của khu vực này sẽ bị bắt giữ hoặc bắn chìm. Sau đó tàu ngầm tấn công và không quân của các đồng minh sẽ cảnh báo ngăn chặn tàu chở dầu và tàu chở hàng hóa cỡ lớn của Trung Quốc không được phép đi qua.
Do tất cả các bến cảng của Trung Quốc đều được đặt tại Hoa Đông và Biển Đông, do đó không thể sắp xếp được đường lưu thông, đồng thời rơi vào tình trạng thiếu hụt năng lượng nghiêm trọng.
Đồng thời, quân đội Mỹ sẽ phong tỏa eo biển Malacca, ngăn chặn tuyến đường vận tải hàng hải của Trung Quốc. Như vậy, tàu Trung Quốc muốn vượt qua eo biển Panama và Magellan dưới sự kiểm soát của Mỹ sẽ rất khó mà tiến vào Thái Bình Dương.
Chiến lược “kiểm soát ngoài khơi” của Mỹ là tránh phát sinh tấn công vũ trang vào Trung Quốc đại lục, có thể giảm khả năng để leo thang xung đột thành chiến tranh hạt nhân, đồng thời làm cho xung đột chấm dứt dễ dàng hơn.
Washington muốn thông qua chiến lược này hóa giải xung đột trong một cuộc chiến không tiêu hao sức mạnh chiến đấu, và sau cùng là chấm dứt chiến tranh. Cũng có thể nói rằng, Mỹ hoàn toàn không tấn công Trung Quốc, mà là sử dụng ưu thế địa lý ngăn chặn thương mại xuất nhập khẩu, làm suy yếu nghiêm trọng nền kinh tế.
Để đối phó, Bắc Kinh một mặt xây dựng các cơ sở hạ tầng đường ống dẫn khí trên đất liền, mặt khác trong tình huống không thể huy động lực lượng hải quân sẽ thay thế bằng lực lượng cảnh sát biển.
Nhưng có vẻ Trung Quốc đang quá tập trung với đối thủ “số 1″ mà quên mất họ còn phải đối mặt với các đội quân nhỏ nhưng kiên định của các quốc gia đang bị xâm phạm chủ quyền biển như Việt Nam, Philippines, Malaysia…
Dân gian Việt Nam có câu “hai chọi một không chột cũng què”, nếu chỉ đối phó riêng với từng quốc gia thậm chí với cường quốc Mỹ thì Trung Quốc có thể có ưu thế “gần nhà” nhưng trước tình hình Trung Quốc đang gây hấn với quá nhiều quốc gia hiện nay thì có lẽ một kết quả không mấy tốt đẹp đang chờ đợi họ phía trước.
(Theo http://nguyentandung.org/)
Đây là bài phỏng vấn Nguyễn Lương Hải Khôi (Quỹ Nghiên cứu Biển Dông) do Đỗ Thiện của báo Pháp luật TP HCM thực hiện. Tuy nhiên, cho đến ngày 2-7-2014 thì bài vẫn chưa được đăng và người được phỏng vấn vẫn chưa nhận được quyết định nào của tờ báo. Do đó, Nguyễn Lương Hải Khôi nhờ  viet-studies phổ biến đến bạn đọc.

Câu 1: Thưa ông, ông đánh giá thế nào về vai trò của Nhật đối với Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao với Trung Quốc xung quanh vấn đề giàn khoan 981 trái phép trên quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, nhất là khi Nhật là một đồng minh của Mỹ?
Trả lời:Về vai trò của Nhật đối với Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao với Trung Quốc, không khó để mỗi chúng ta có câu trả lời. Chúng ta chỉ cần tưởng tượng chuyện gì sẽ xảy ra ở Châu Á thế kỷ 21 này, nếu chỉ có một cường quốc duy nhất là Trung Quốc, không tồn tại một cường quốc có bề dày lịch sử là Nhật Bản hoặc Nhật Bản chỉ là một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

Tàu đổ bộ Kunisaki của Nhật Bản thăm Đà Nẵng. Lực lượng đại diện các quốc gia tham gia chương trình đối tác Thái Bình Dương 2014 tại Đà Nẵng
Sự tồn tại của Nhật Bản như hiện nay đã là một ích lợi lớn cho Việt Nam và các nước đang phát triển trong khu vực – một quốc gia với vai trò gìn giữ vai trò hòa bình, là đối trọng để kiềm chế các động thái hung hăng gây hấn của Trung Quốc, là động lực kinh tế, và là một nền dân chủ trưởng thành nhất trong cả khu vực.
Điều quan trọng không phải đánh giá vai trò của Nhật đối với Việt Nam trong một sự việc cụ thể là vấn đề giàn khoan Haiyang Shiyou 981 mà là nhận thức được vai trò của Nhật Bản đối với Việt Nam trong cuộc đấu trí tuệ có tính sinh tử trước chiến lược bành trướng tính bằng nhiều thế kỷ của Trung Quốc, không phải chỉ từ bây giờ.
Câu 2: Hiện nay, chính phủ Nhật đã và đang thể hiện quan điểm như thế nào về vấn đề 981? Ông đánh giá thế nào về các động thái đó của Nhật?
Trả lời: Chính phủ Nhật đã công khai ủng hộ Việt Nam, phê pháp mạnh mẽ hành động sai trái của Trung Quốc ở các diễn đàn quốc tế, ở Hội nghị thượng đỉnh an ninh Châu Á (Đối thoại Shangri – La), ở Hội nghị G7 – nơi Việt Nam không có điều kiện tham gia, cử tàu Kunisaki thăm Việt Nam. Việc giúp đỡ về khí tài vật chất đang được xem xét, tuy nhiên còn vướng mắc ở các vấn đề pháp lý của Hiến pháp Nhật Bản.
Tuy vậy, điều chúng ta cần nhận thức là: chúng ta cần Nhật Bản không chỉ cho sự vụ “nhỏ nhặt” là cái dàn khoan này. Nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta chỉ cần sự trợ giúp của Nhật để giải quyết cho “êm xuôi” cái vụ “lình xình ngắn hạn” này, chúng ta sẽ không nhận được gì cả, không chỉ từ Nhật mà còn từ các cường quốc khác. Chúng ta cần Nhật Bản cho một cuộc đấu về mặt trí tuệ trường kỳ và bài bản để trưởng thành và sinh tồn trong một thời đại mới.
Câu 3: Đâu là lĩnh vực mà Việt-Nhật nên tăng cường hợp tác để xây dựng sức mạnh trong thế đối trọng với Trung Quốc?
Trả lời: Không có Việt Nam, Nhật Bản vẫn dư sức để tự vệ. Không có Nhật Bản và thế giới các cường quốc dân chủ khác, Việt Nam không thể tồn tại được trước Trung Quốc. Hợp tác với các nước này để tự lực tự cường, trước hết, đó là nhu cầu nội tại của Việt Nam.
Chúng ta không cần thiết phải hỏi “lĩnh vực” cụ thể để ưu tiên. Nhật Bản là quốc gia duy nhất đã hỗ trợ Việt Nam toàn diện ở hầu hết các lĩnh vực quan trọng: viện trợ kinh tế, kỹ thuật, giáo dục, tư vấn chiến lược phát triển một cách trường kỳ và bài bản. Nhưng, các loại viện trợ này mang lại lợi ích cho Việt Nam hay không, mang lại lợi ích đến mức độ nào, thì hoàn toàn nằm ở phía người nhận. Nếu chỉ nhờ nhận viện trợ mà “hóa rồng” thì cả thế giới này đâu còn quá nhiều “giun dế” đến thế. Cái chúng ta cần băn khoăn, xin nhắc lại, không phải là “lĩnh vực” mà là “cách thức”. “Cách thức” của chúng ta hình thành từ một thể chế lành mạnh, trong sạch, muốn đi vào phát triển thực chứ không phải là nâng cao các con số.
Câu 4: VN nên có động thái gì nếu muốn “nhận 1 phiếu ủng hộ” từ Nhật một cách rõ rệt, mạnh mẽ?
Trả lời: Nếu nói về một “động thái” cần thiết, có lẽ đó nên là một động thái cho thế giới thấy chúng ta đang đi về phía thế giới văn minh, tự do, dân chủ.
Tuy vậy, cái chúng ta cần không chỉ là một động thái, một “chiến thuật” có tính mưu mẹo để “giải quyết” cho “êm xuôi” một tình huống khó khăn (là chuyện giàn khoan 981).
Nếu Trung Quốc ngay lập tức rút giàn khoan vào ngày mai? Rất có thể. Nhưng mối nguy đối với sự tồn vong của dân tộc chúng ta trước trước chiến lược bành trướng của Trung Quốc thì có giảm không? Không.
Trung Quốc sẽ rút giàn khoan thôi. Giống như đã đưa quân pháo vào chốt một vị trí trên bàn cờ để dễ bề bố trí đội hình ở phía khác, khi xong việc rồi thì quân pháo sẽ được rút về vị trí an toàn. Nhưng khi đó, một thế trận mới đã hình thành và thường thì kẻ chơi cờ yếu tay hoặc thiếu thông tin để xử lý sẽ chẳng thể thấy gì.
Giàn khoan này không có vẻ có mục đích kinh tế là khai thác dầu. Và, nếu để khai thác dầu, không ai làm những việc khiến cả thế giới phẫn nộ như thế. Tôi nghĩ đây là hành vi nhắm đến một mục đích chính trị. Mục đích gì? Không phải để gây hấn với Mỹ, làm cho Nhật Bản phải căng mình lên đề phòng. Trên bàn cờ, đây chỉ là mục tiêu phụ. Mục tiêu chính phải nằm ở đâu đó, mà vấn đề lãnh hải, chủ quyền, dầu khí chỉ là cái phông nền của màn kịch “Sơn Đông mãi võ”. Trung Quốc là xứ từ thời Xuân Thu Chiến Quốc đến nay, đời nào cũng để lại sách vở dạy dỗ về “quyền mưu” trong chính trị, kinh tế, đối nhân xử thế… Chúng ta cần hiểu điều này để không bị cuốn vào các màn diễn võ rổn rảng trên phố.
Câu 5: Theo ông, dự báo sắp tới quan hệ Việt – Nhật sẽ ra sao khi quan ngại giàn khoan 981 sẽ là tiền lệ xấu không chỉ cho VN, mà còn cho Nhật?
Trả lời: Câu chuyện giàn khoan kiểu này rất khó xảy ra trên lãnh hải Nhật. Trung Quốc cho công bố kế hoạch này từ tháng 3 năm 2014. Họ còn cần thời gian để kéo giàn khoan này tới đường biên lãnh hải Việt Nam, rồi từ đường biên lãnh hải ấy di chuyển tới vị trí hiện tại. Suốt thời gian đó, Việt Nam đã làm gì? Tôi không được biết thông tin nào về hành động của chúng ta trong giai đoạn này cả. Dường như chỉ đến khi dàn khoan dừng lại và Trung Quốc bố trí xong đội hình tàu chiến bảo vệ thì chúng ta mới lên tiếng.
Nếu là Nhật Bản, tôi nghĩ họ sẽ không làm thế. Nhật Bản sẽ phản đối, hoặc cảnh cáo, ngay khi Trung Quốc mới công bố kế hoạch, sẽ đón tiếp “khách quý” ngay từ đường biên chứ không để khách vào sâu cách đường cơ sở chỉ 120 hải lý như vậy. Cho nên chúng ta không cần phải quan ngại rằng chuyện giàn khoan này có thể lặp lại với Nhật.
Nhật và nhiều cường quốc khác dù không có chủ quyền nhưng có quyền lợi trên Biển Đông. Họ không thể để Trung Quốc nuốt trọn vùng biển này. Nhưng, Việt Nam không nên dựa vào thực tế đó để mong đợi rằng vấn đề Biển Đông “tự nó” sẽ “được giải quyết” bởi ai đó, còn Việt Nam thì chỉ cần “tọa sơn quan hổ đấu” và “được lòng tất cả các bên”.
Còn dự báo quan hệ Việt – Nhật thì rất khó. Những gì Nhật giúp Việt Nam thực ra đã vượt quá khả năng tiêu hóa của Việt Nam rồi. Một ví dụ: Nhật sẵn sàng giúp Việt Nam phát triển “công nghệ cao” nhưng đây không phải là cái mà Nhật “cho” thì Việt Nam “nhận” được. Đó không phải là khẩu súng kíp thời Cao Thắng để bắt chước. Quan hệ Việt Nhật chỉ thực sự giúp Việt Nam phát triển lên một đẳng cấp mới khi Việt Nam tái cấu trúc tiến trình ra quyết định ở cấp chiến lược, xây dựng xã hội dân sự lành mạnh, và một thể chế sạch sẽ khỏi tham nhũng.
(Theo Nguyễn Lương Hải Khôi)

Tòa trọng tài thường trực (PCA) là tòa án mà Philippines đã nộp hồ sơ kiện Trung Quốc về vụ tranh chấp giữa hai nước về chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông.

Với việc ký kết Hiệp định nước chủ nhà với Tòa trọng tài thường trực (PCA) ngày 23/6 vừa qua, Việt Nam đã chính thức công nhận Tòa trọng tài thường trực có tư cách pháp lý cần thiết để tiến hành các hoạt động giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế thông qua trọng tài, trung gian, hòa giải và ủy ban điều tra. PCA sẽ có tư cách pháp lý để cung cấp các hỗ trợ thích hợp khác liên quan đến hoạt động giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế do Tòa trọng tài thường trực tiến hành tại Việt Nam, cũng như tiến hành các hoạt động hợp tác với Việt Nam.
Tòa án Trọng tài Thường trực (Permanent Court of Arbitration, PCA) có trụ sở tại Lahaye, Hà Lan
Tòa án Trọng tài Thường trực (Permanent Court of Arbitration, PCA) có trụ sở tại Lahaye, Hà Lan
PCA là một tổ chức liên chính phủ có trụ sở tại The Hague (Hà Lan) gồm 115 quốc gia thành viên, được thành lập vào năm 1899 để xét xử tranh chấp giữa các quốc gia thành viên. PCA có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp, bao gồm cả tranh chấp lãnh thổ, giữa các quốc gia thành viên, trừ khi các quốc gia thỏa thuận lựa chọn một phương thức giải quyết khác.
PCA cũng chính là tòa án mà Philippines đã nộp hồ sơ kiện Trung Quốc về vụ tranh chấp giữa 2 nước về chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông tuy nhiên cho đến nay Bắc Kinh vẫn từ chối tham gia quá trình tố tụng. Ngày 3/6 vừa qua, PCA thông báo Tòa đã yêu cầu Trung Quốc đến ngày 15/12 phải nộp hồ sơ phản biện.
Vì sao nên kiện Trung Quốc ra PCA?
Giáo sư Luật Erik Franckx, thành viên của PCA cho rằng Việt Nam nên khởi kiện Trung Quốc. Có nhiều nội dung để kiện như phân định vùng biển, gây ô nhiễm vùng biển… Tuy nhiên lời khuyên mà giáo sư Franckx đưa ra là Việt Nam có thể chọn vấn đề như Philippines theo đó yêu cầu Trung Quốc phân định rõ đường 9 đoạn.
Giáo sư Luật Erik Franckx, thành viên của PCA. (Ảnh: Trà Xanh)
Giáo sư Luật Erik Franckx, thành viên của PCA. (Ảnh: Trà Xanh)
 
Giáo sư Frankx giải thích rằng khi khởi kiện ra Tòa án công lý quốc tế (ICJ) bắt buộc phải có hai bên chấp nhận. Trong tình hình hiện nay, khả năng kiện ra tòa này rất khó vì Trung Quốc có thể từ chối. Ví dụ như Nhật Bản, họ chủ động đưa những vụ việc tranh chấp đảo Senkaku ra tòa công lý nhưng phía Trung Quốc không có phản hồi. Tuy nhiên, nếu kiện Trung Quốc dựa vào những cơ chế giải quyết tranh chấp bằng UNCLOS lên PCA theo cách của Philippines là một cách hợp lý vì Trung Quốc cũng tham gia ký UNCLOS nên phải có trách nhiệm thực hiện.
Đồng quan điểm với giáo sư Frankx, giáo sư Jerome Cohen, Viện luật pháp Hoa Kỳ - châu Á cho rằng, Việt Nam có thể tham gia vụ kiện cùng với Philippines hoặc tự khởi kiện Trung Quốc.
Ông Cohen cũng cho rằng, có thể kiện Trung Quốc mà không cần có sự tham gia của Trung Quốc (như Trung Quốc đã làm trong vụ kiện của Philippines). Điều này cũng là một cách để thế giới thấy được rằng Trung Quốc đang cố tình lảng tránh và không quan tâm đến việc giải quyết vấn đề hiện nay bằng con đường hòa bình.
Theo giáo sư Cohen, khi kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế thì điểm mấu chốt không phải ai mạnh hơn ai mà là công lý, chính nghĩa thuộc về ai.
Kiện để thế giới thấy yêu sách phi lý của Trung Quốc
Chia sẻ về vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc, Giáo sư Renato DeCastro, trường Đại học De La Salle, Manila, Philippines cho biết, đến nay Trung Quốc không giải thích rõ ràng “đường 9 đoạn” là gì. Trong các cuộc tranh luận, Trung Quốc có lúc cho rằng “đường 9 đoạn” là “lãnh hải”, nhưng có lúc lại là “vùng đặc quyền kinh tế (EEZ)”. Trung Quốc từ chối giải thích “đường 9 đoạn” cho dù họ thừa biết.
Giáo sư Renato DeCastro, trường Đại học De La Salle, Manila, Philippines. (Ảnh: Trà Xanh)
Giáo sư Renato DeCastro, trường Đại học De La Salle, Manila, Philippines. (Ảnh: Trà Xanh)
 
“Đó chính là lý do vì sao Philippines kiện Trung Quốc lên Tòa án trọng tài quốc tế về Công ước Luật biển, với hi vọng tòa án yêu cầu Trung Quốc giải thích “đường 9 đoạn” là gì và từ đó tòa đưa ra phán quyết “đường 9 đoạn” là không phù hợp với Luật quốc tế và dĩ nhiên mọi người đều biết là Trung Quốc là một thành viên tham gia Công ước quốc tế về Luật biển (UNCLOS)”, giáo sư Renato nói.
Về kết quả vụ kiện, giáo sư Renato cho biết, ít nhất cho đến nay mọi người nhận biết được vấn đề và đang bàn luận về nó. Điều này đã khiến Trung Quốc bị đẩy vào thế luôn phải đi biện hộ. Mỹ, Nhật và các nước đã thể hiện sự ủng hộ đối với Philippines và các cuộc bàn luận đã gây áp lực đối với Trung Quốc.
Trung Quốc bảo lưu những điều khoản không có lợi cho mình với UNCLOS
Về nguyên tắc, các nước ký UNCLOS đều chịu phán quyết của tòa án biển quốc tế, nhưng mỗi nước khi ký đều có quyền tuyên bố bảo lưu, không chấp nhận thẩm quyền phán xử của tòa án quốc tế trong lĩnh vực nào.
Trung Quốc đã có ý đồ từ rất sớm nên đã bảo lưu theo điều 298 của UNCLOS loại trừ cả bốn cách quốc tế giải quyết tranh chấp theo luật biển, đặc biệt là tòa án quốc tế giải quyết tranh chấp liên quan đến chủ quyền đảo...
Tuy nhiên có một nghĩa vụ căn bản của thành viên Liên Hiệp Quốc mà Trung Quốc không thể loại trừ. Đó là khoản 3 điều 2 Hiến chương Liên Hiệp Quốc và điều 279 UNCLOS đều quy định các nước thành viên có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình, không được sử dụng vũ lực, và nghĩa vụ này không bị loại trừ bởi bất kỳ tuyên bố nào.
Về vấn đề này, giáo sư Giáo sư Luật Erik Franckx, thành viên của Tòa trọng tài thường trực cho biết: “Khi ký UNCLOS, Trung Quốc đã khôn ngoan tự loại bỏ mình ra một số điều khoản có tính chất ràng buộc là những quyền bình thường của các nước tham gia. Bằng cách bảo lưu một số điều khoản trong UNCLOS, nên khi vấn đề được đưa ra tòa, Trung Quốc có khả năng nói rằng vấn đề này thuộc các loại trừ của họ. Đó cũng sẽ là một trong những khó khăn nếu Việt Nam kiện Trung Quốc theo Công ước Luật biển”.
Giáo sư Frankx cũng cho rằng, dù kết quả xấu nhất là Toà không có khả năng đưa ra phán xét thì đây cũng là một quá trình nêu quan điểm, thuyết phục ý kiến của dư luận thế giới.
“Đây là một cách văn minh để giải quyết tranh chấp, vẫn thúc đẩy hợp tác. Dù chạy đua các vụ kiện còn hơn là chạy đua vũ khí”, giáo sư Frankx nhận định.
(Theo Trà Xanh VOV)

Các Hội hữu nghị với Việt Nam tại nhiều nước châu Âu đã ra Nghị quyết chung yêu cầu Trung Quốc tuân thủ quốc tế, rút giàn khoan ra khỏi vùng biển của Việt Nam và chấm dứt hành động bạo lực, đồng thời cũng gửi nghị quyết này tới Liên minh Châu Âu (EU).

Giàn khoan Hải Dương-981 được Trung Quốc hạ đặt trái phép trên vùng biển Việt Nam
Giàn khoan Hải Dương-981 được Trung Quốc hạ đặt trái phép trên vùng biển Việt Nam
Theo thông tin từ Liên hiệp các tổ chức Hữu Nghị Việt Nam, nghị quyết trên được Các Hội hữu nghị với Việt Nam tại Pháp, Đức, Thụy sĩ, Tây Ban Nha, Anh và Đan Mạch, Ủy ban Đoàn kết Thụy Điển với Việt Nam, Lào, Campuchia và Trung tâm nghiên cứu Việt Nam tại Italia ra ngày 30/6. Nghị quyết nêu rõ:
Từ ngày 2/5 đến nay đã xảy ra các vụ đụng độ nghiêm trọng gần đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa thuộc Biển Đông. Trung Quốc đã hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế, ngay trên thềm lục địa của Việt Nam, đồng thời cũng điều động hàng trăm tàu hộ tống bảo vệ giàn khoan này. Các tàu của Việt Nam đã bị tàu Trung Quốc đâm húc, phun vòi rồng và làm cho một số người bị thương.
Trước tình hình này, Các Hội hữu nghị với Việt Nam ở Châu Âu cho rằng: những bất đồng về việc xác lập một cách chính xác vùng lãnh thổ và chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thể giải quyết bằng các hành động khiêu khích, hành vi hành động bạo lực theo cách đơn phương mà phải áp dụng luật pháp quốc tế.
"Trong các tranh chấp về biên giới phải tính đến chủ quyền lịch sử đối với các khu vực quốc gia đã được xác lập và thống nhất trong quá khứ. Trong trường hợp tranh chấp về khu vực chủ quyền trên biển thì phải theo các nguyên tắc, quy định và khuyến nghị hiện hành của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển được xác lập năm 1982 tại Hội nghị Montego đã được cả Trung Quốc và Việt Nam phê chuẩn. Ở thời điểm này, rõ ràng việc Trung Quốc đang đi ngược lại luật pháp quốc tế, gây áp lực lên các nước láng giếng để thực thi quan điểm của mình là điều không thể chấp nhận được. Điều này đặc biệt đúng đối với trường hợp Việt Nam. Trung Quốc đã làm ảnh hưởng đến quan hệ hợp tác lâu đời giữa hai nước và phá vỡ những thỏa thuận mà họ đã cam kết với cộng đồng các nước ASEAN, đặc biệt là Tuyên bố năm 2002 về việc giải quyết thỏa đáng các tranh chấp," tuyên bố viết.
Các Hội hữu nghị với Việt Nam ở Châu Âu kêu gọi các nhà lãnh đạo Trung Quốc rút ngay giàn khoan HD 981 cùng các tàu thuyền xâm phạm vùng biển của Việt Nam; đình chỉ mọi biện pháp bạo lực và thực hiện những nghĩa vụ mà Trung Quốc đã cam kết trong thỏa thuận 2002, nghĩa là phải thay đổi cách ứng xử để tạo điều kiện cho sự hợp tác tốt đẹp và tiến tới một giải pháp chính đáng cho cuộc xung đột.
(Theo http://dantri.com.vn)
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định, với lẽ phải chính nghĩa, toàn dân ta chung sức, đồng lòng, kiên quyết đấu tranh, yêu cầu Trung Quốc phải rút giàn khoan cùng tàu thuyền, máy bay hộ tống ra khỏi vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Chiều 2/7, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng tiếp xúc cử tri quận Ngô Quyền, báo cáo kết quả kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII.
Tại cuộc tiếp xúc, các cử tri quận Ngô Quyền bày tỏ sự đồng tình, ủng hộ việc Quốc hội đã ra thông cáo tuyên bố lập trường chính nghĩa của Việt Nam, khẳng định việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trong vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế khiến cho tình hình biển Đông căng thẳng, hòa bình và an ninh bị đe dọa...
tt-3236-1404312768.jpg
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gặp gỡ các cử tri Hải Phòng. Ảnh: Giang Chinh
Cử tri Vũ Đình Thảo, phường Máy Tơ (Ngô Quyền) kiến nghị Quốc hội cần sớm có biện pháp chỉ đạo các cơ quan chức năng, đưa các văn bản luật vừa được Quốc hội thông qua vào cuộc sống, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật; mở rộng diện lấy phiếu tín nhiệm, coi đó là biện pháp hữu hiệu để quản lý, đánh giá cán bộ, phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng.
Sau khi lắng nghe các cử tri nêu ý kiến, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, bước vào năm 2014, đất nước ta dù còn gặp nhiều khó khăn, song với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành, tình hình an ninh chính trị Việt Nam ngày càng có sự ổn định vững chắc, kinh tế - xã hội có chuyển biến và đạt hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, từ đầu tháng 5 đến nay, việc Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp đạo lý, ngang nhiên hạ đặt giàn khoan vào sâu trong vùng biển của Việt Nam, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đã làm cho cả dân tộc ta phẫn nộ, lên án.
Thủ tướng khẳng định, với lẽ phải chính nghĩa, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta chung sức, đồng lòng, kiên quyết đấu tranh, yêu cầu Trung Quốc phải rút giàn khoan cùng tàu thuyền, máy bay hộ tống ra khỏi vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Việt Nam cũng đã triển khai các biện pháp ngoại giao, thông báo với cộng đồng quốc tế, với Liên Hiệp Quốc, ASEAN và các nước trên thế giới về hành vi ngang ngược của Trung Quốc.
Về các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Chính phủ quyết tâm thực hiện 3 mục tiêu quan trọng: Đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước; ổn định an ninh chính trị, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội; phấn đấu mức tăng trưởng GDP đạt 6,12% (GDP cả năm đạt 5,8%).
Để thực hiện các mục tiêu này, trong thời gian tới, Chính phủ tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt các nhóm giải pháp chủ yếu, trong đó tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh thông qua việc hoàn thiện thể chế hóa luật pháp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người dân phát triển kinh tế; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh đấu tranh phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng…
Cũng tại buổi tiếp xúc cử tri, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP Hải Phòng trong thời gian qua không để kẻ xấu lợi dụng, kích động biểu tình, gây rối phá hoại, đảm bảo an ninh trật tự và an toàn cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Hải Phòng.
Riêng về các kiến nghị của cử tri về việc nâng cấp Đại học Hàng hải Việt Nam thành trường đại học trọng điểm quốc gia; hỗ trợ ngư dân vay vốn đóng tàu vỏ thép đánh bắt xa bờ, đẩy nhanh tiến độ xây dựng đảo Bạch Long Vỹ là đảo thanh niên, đảo tiền tiêu của Tổ quốc..., Thủ tướng nhất trí cao và hứa sẽ chỉ đạo các bộ, ngành, cơ quan trung ương phối hợp với thành phố Hải Phòng giải quyết.
(Theo http://vnexpress.net)
"Bao giờ âm mưu độc chiếm biển Đông của Trung Quốc chưa thay đổi thì tính chất phức tạp trên biển chưa giảm", Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói. 
Chiều 2/7, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dẫn đầu đoàn công tác Trung ương đến hợp tác xã đóng, sửa chữa tàu Bắc Mỹ An (quận Sơn Trà, Đà Nẵng) để "mục sở thị" tàu cá ĐNa 90152TS bị Trung Quốc đâm chìm hôm 26/5, mới được lai dắt về bờ.
Ân cần động viên vợ chồng chủ tàu tá Huỳnh Thị Như Hoa, Chủ tịch nước đặt nhiều câu hỏi để tìm hiểu về sự việc con tàu đang còn hằn nguyên vết đâm chí mạng ở Hoàng Sa.
2-1921-1404315557.jpg
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hỏi về những thương tích trên tàu ĐNa 90152. Ảnh:Nguyễn Đông
Bà Hoa kể cho Chủ tịch nước nghe về hành động vô nhân đạo của Trung Quốc với tàu cá của mình cùng 19 thuyền viên, và khẳng định "sẽ kiện Trung Quốc đến cùng". Bà đã thu thập tất cả chứng cứ, trong đó có đoạn video ghi lại cảnh tàu Trung Quốc cố ý đâm chìm tàu ĐNa 90152, để cùng luật sư tiến hành các thủ tục khởi kiện tàu vỏ sắt Trung Quốc. "Hoàng Sa là ngư trường truyền thống bao đời nay, chúng tôi không sợ sự hung hãn của Trung Quốc mà quyết bám biển đến cùng", bà nói.
Sau cái bắt tay cùng lời dặn dò vợ chồng bà Hoa gắng quan tâm đến việc học hành của con cái để tương lai làm chủ những con tàu hiện đại ở vùng biển chủ quyền, Chủ tịch nước cấp tốc về âu thuyền Thọ Quang để gặp mặt 25 thuyền trưởng vừa trở về từ Hoàng Sa. "Chủ tịch nước cởi mở và dễ gần quá!", một nữ chủ tàu thốt lên khi thấy ông đến hỏi han từng ngư dân lấm lem vệt dầu mỡ, da đen sạm vì nắng gió sau chuyến đi biển dài ngày.
"Người trong nhà, tôi nói thật", thuyền trưởng Lê Văn Lễ, tàu ĐNa 90352 mở đầu những kiến nghị của mình với Chủ tịch nước. Theo lão ngư này, ngư dân rất hồ hởi với chủ trương của Nhà nước hỗ trợ vốn đóng mới tàu thuyền công suất lớn, nhưng thủ tục không nên rườm rà. "Đóng tàu mới thì nên ưu tiên tàu gỗ, còn tàu sắt ngư dân chưa quen; phí duy tu, bảo dưỡng quá lớn, ngư dân không kham nổi. Nếu được, Nhà nước bỏ tiền đóng tàu vỏ sắt rồi cho ngư dân thuê lại", ông nói. 
Nhiều ngư dân phản ánh ngư trường đang bị thu hẹp, hiện ngư dân miền Trung chỉ ra vùng biển cách bờ chừng 100 hải lý đã bị nhiều tàu Trung Quốc ngăn cản, sẵn sàng đâm va. Đánh bắt đã khó, khi về bờ ngư dân lại bị tiểu thương ép giá, sản phẩm không được thu mua tức thời khiến những chuyến đi biển thường thua lỗ, do đó Nhà nước phải giúp ngư dân tìm cho được đầu ra ổn định. "Nếu có thêm nhiều tàu kiểm ngư, cảnh sát biển bảo vệ ngư dân, bà con sẽ yên tâm hơn trong việc đánh bắt và bảo vệ chủ quyền", thuyền trưởng Trương Văn Hay, người có thâm niên 30 năm đi biển, hiến kế.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói, những ngày này cả nước đang dồn mọi sự quan tâm, lo lắng về biển Đông. Trong tình hình phức tạp, khó khăn do mất ổn định nhưng ngư dân vẫn can trường bám biển, cùng lực lượng thực thi pháp luật bảo vệ chủ quyền là điều đáng quý. "Ngư trường của mình, mình phải bảo vệ. Không có lý do gì để từ bỏ ngư trường truyền thống. Sau lưng bà con là hàng triệu người dân", Chủ tịch nước nhấn mạnh và chỉ đạo nghiệp đoàn nghề cá địa phương cần bàn tính những phương án hỗ trợ đầu ra cho ngư dân. Tới đây, Nhà nước sẽ tăng cường cảnh sát biển và kiểm ngư giúp ngư dân yên tâm bám biển.
a3-8724-1404315558.jpg
Tàu kiểm ngư 951 bị Trung Quốc đâm nát hai bên mạn đang về bờ sửa chữa. Ảnh:Nguyễn Đông
Theo Chủ tịch nước, ở thực địa giàn khoan dù tương quan lực lượng kiểm ngư, cảnh sát biển và ngư dân Việt Nam số lượng ít hơn, phương tiện nhỏ và trang bị còn thua kém vì đất nước còn nghèo, nhưng chúng ta không sử dụng vũ lực, không va chạm, không phun vòi rồng như Trung Quốc. "Việt Nam chỉ đòi hỏi rằng các lực lượng của Trung Quốc xâm phạm vùng biển của Việt Nam cần sớm rút về nước. Đây là một đòi hỏi rất đơn giản của chủ nhà. Một sự đòi hỏi mà nếu có suy nghĩ đạo lý, luật pháp thì thông thường đã xong rồi, thế mà vẫn chưa được", Chủ tịch trăn trở.
Nhận định về diễn biến sắp tới, Chủ tịch nước nói âm mưu độc chiếm biển Đông của Trung Quốc chưa thay đổi thì tính chất phức tạp trên biển là chưa giảm. Nhưng Trung Quốc sẽ không độc chiếm được và "dứt khoát không thể chiếm được". Người đứng đầu Nhà nước cho biết đây không phải là nói để lên gân, mà là lẽ tự nhiên, bởi thế giới ngày nay toàn cầu hóa, tất cả đều biết được những hành động sai trái, vi phạm đạo lý.
"Ngày nào Trung Quốc chưa từ bỏ chủ trương mở rộng biên giới bằng "đường lưỡi bò" thì biển Đông chưa có được ổn định. Bây giờ họ lại vẽ thêm một đoạn nữa rồi, rất buồn cười, biển quốc tế mà vẽ bậy. Trong công cuộc bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, chúng ta phải hết sức kiên quyết, kiên trì nhưng câu chuyện chủ quyền đất nước là không nhân nhượng, bởi bao máu xương của ông cha đổ ra để Việt Nam có được nền độc lập", Chủ tịch nước nhấn mạnh.
7-5609-1404315558.jpg
Nắm tay động viên thuyền trưởng Mai Văn Bằng của tàu KN 951, Chủ tịch nước nói người nhỏ thì phải luyện tập võ nghệ để bảo vệ Tổ quốc. Ảnh: Nguyễn Đông
Cuối giờ chiều, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dành thời gian đến thăm "người hùng Hoàng Sa" KN 951 khi con tàu đang được cấp tập sửa chữa để sớm trở lại Hoàng Sa. Cởi mở, ân cần thăm hỏi những kiểm ngư viên trên con tàu bị nhiều tàu Trung Quốc đâm nát hai bên mạn, Chủ tịch nước đặt trọn niềm tin khi nghe thuyền trưởng Mai Văn Bằng khảng khái: "Các tàu kiểm ngư đã có phương án đối phó với các tàu Trung Quốc vi phạm chủ quyền".
(Theo http://vnexpress.net)
Flag Counter

Sự Thật và Dối Trá

Sự Thật và Dối Trá

XEM NHIỀU

bunhinrom007@gmail.com. Được tạo bởi Blogger.

Lượt Xem