Trong suốt hơn một thiên niên kỷ qua, quân và dân Việt Nam đã giành được hàng loạt chiến thắng hết sức lẫy lừng trước những kẻ thù hùng mạnh hơn rất nhiều.

1. Đại chiến trên sông Bạch Đằng
Năm 938 đánh dấu sự kiện lịch sử đối với dân tộc Việt Nam khi Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận đại chiến trên cửa sông Bạch Đằng lừng lẫy. Giành lại độc lập cho dân tộc sau hơn 1.000 năm bị phương Bắc đô hộ, trận chiến trên sông Bạch Đằng còn mở ra thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc Việt Nam.
Trước những chiến thuyền hùng mạnh của kẻ thù, Ngô Quyền đã chỉ đạo quân và dân đóng cọc gỗ bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng, nay là một con sông chảy giữa thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh và huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, cách vịnh Hạ Long, cửa Lục khoảng 40 km. Khi nước triều lên, tất cả cọc bị nước nhấn chìm, khiến kẻ địch không thể phát hiện.
Lừa chiến thuyền của kẻ địch tiến vào bãi cọc đúng thời điểm nước triều rút, tất cả chiến thuyền của quân Nam Hán đều bị phá hủy và chìm xuống đáy nước. Chỉ huy quân Nam Hán là Hoàng tử Lưu Hoằng Tháo cùng quá nửa binh sĩ bị giết trong trận đại chiến trên sông Bạch Đằng lịch sử. Không chỉ giúp bảo vệ non sông đất nước, Hải chiến sông Bạch Đằng còn mở ra một thời kỳ độc lập tự chủ cho đất Việt.
2. Trận chiến trên dòng sông Như Nguyệt
Trận Như Nguyệt là trận đánh lớn, diễn ra ở một khúc trên sông Như Nguyệt (hay sông Cầu) vào năm 1077. Là trận đánh quyết định cho cuộc chiến tranh Tống – Việt. Chiến thắng trên sông Như Nguyệt khiến triều Tống của Trung Quốc không dám cất quân xâm lược, buộc phải thừa nhận Đại Việt là một quốc gia độc lập.
Trận chiến trên sông Như Nguyệt do danh tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy. Trước binh lực hùng mạnh của kẻ thù, Lý Thường Kiệt chọn chiến lược phòng thủ. Chọn khu vực phía nam sông Cầu để quyết thủ, Lý Thường Kiệt đã ra lệnh xây dựng phòng tuyến trên sông Như Nguyệt để biến nơi đây thành trận địa quyết định của cả cuộc chiến.
Sau thời gian dài không thể tiến về Thăng Long, kinh đô Đại Việt, quân Tống lâm vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan. Thất bại liên tiếp, nhiều quân sĩ chết vì dịch bệnh cùng việc bị quân của Lý Thường Kiệt toàn lực tấn công, quân Tống buộc phải rút về nước. Chiến thắng của Lý Thường Kiệt được xem là chiến thắng lớn nhất kể từ sau trận Bạch Đằng năm 938 của dân tộc Việt.
3. Ba trận đại chiến chống quân Nguyên Mông
Khi đế chế Mông Cổ lê vó ngựa khắp thế giới, đội quân hùng mạnh của Thành Cát Tư Hãn nhanh chóng thôn tính một diện tích rộng lớn ở châu Á và châu Âu. Cháu nội Thành Cát Tư Hãn là Hốt Tất Liệt đã lập ra triều đại nhà Nguyên ở Trung Quốc. Từ năm 1257 tới 1288, quân Nguyên Mông tổ chức ba đợt tấn công lớn nhằm thôn tính Đại Việt.
Trước 3 lần tấn công của quân Nguyên Mông trong các năm 1257-58, 1284-85 và 1287-88, quân và dân nhà Trần, dưới sự chỉ huy của danh tướng Trần Hưng Đạo, đã liên tiếp đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông, bảo vệ toàn vẹn độc lập chủ quyền của nhà nước Đại Việt. Với chiến thuật “vườn không nhà trống”, quân Nguyên Mông hùng mạnh rơi vào cảnh thiếu lương thực để rồi sau đó bị đẩy lùi nhanh chóng.
Trong trận chiến cuối cùng, quân Nguyên Mông dễ dàng giành chiến thắng khi mới tiến đánh Đại Việt. Tuy nhiên, do không thể lấy được lương thực từ người dân địa phương nên đạo quân lớn nhanh chóng lâm vào tình cảnh đói khát, mệt mỏi. Khi bị phản công, quân Nguyên Mông hoàn toàn không có cơ hội đáp trả. Cánh quân thủy bị tiêu diệt hoàn toàn tại tử địa Bạch Đằng, nơi quân Nam Hán từng bị Ngô Quyền tiêu diệt.
4. Trận Chi Lăng – Xương Giang
LÊ LỢI
Là sự kiện mang tính quyết định trong cuộc chiến chống ách đô hộ của nhà Minh, Trung Quốc, Trận Chi Lăng – Xương Giang, diễn ra từ ngày 8/10 đến ngày 3/11/1427, giúp nghĩa quân Lam Sơn giành chiến thắng quyết định trước kẻ thù, đập tan ách đô hộ của phương Bắc. Với đội quân ban đầu chỉ vài ngàn người, Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn không ngừng lớn mạnh, đập tan ách thống trị của nhà Minh với hàng chục vạn binh sĩ.
Năm 1426, khi quân Lam Sơn vây hãm đạo quân của Vương Thông ở Đông Quan, nhà Minh quyết định phái hai đạo quân lớn sang Việt Nam giải cứu. Với đạo quân viện binh lên tới 20 vạn người, nghĩa quân Lam Sơn liên tiếp tổ chức đánh hạ quân địch. Lần lượt các tướng nhà Minh đều bị tiêu diệt, trong đó có Liễu Thăng, chỉ huy 10 vạn quân.
5. Hải chiến Rạch Gầm – Xoài Mút
Trận chiến lớn trên sông, diễn ra đêm ngày 19 rạng sáng 20/1/1785 giữa quân Tây Sơn và Liên quân Xiêm – Nguyễn. Do xảy ra trên khúc sông Rạch Gầm – Xoài Mút, nay thuộc tỉnh Tiền Giang, nên tên của trận chiến này được gắn liền với nơi xảy ra giao chiến.
Nhận lời cầu cứu của chúa Nguyễn, Nguyễn Ánh, vua Xiêm cử khoảng 2 vạn lính thủy, 3 vạn lính bộ cùng 3.000 – 4.000 quân nhà Nguyễn tới đánh quân Tây Sơn. Trước đội quân vượt trội hơn hẳn về số lượng, Nguyễn Huệ bí mật cho quân và tàu phục kích tại những nơi hiểm yếu trước khi tiến hành khiêu khích để dụ kẻ địch vào trận địa phục kích.
Diễn ra chỉ trong một đêm, quân Tây Sơn đã nhấn chìm 300 chiến thuyền và 2 vạn thủy binh của quân Xiêm cùng một số lượng lớn quân của Chúa Nguyễn, Nguyễn Ánh. Không chỉ bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, Nguyễn Huệ còn đập tan âm mưu mượn tay chúa Nguyễn để xâm chiếm lãnh thổ Đại Việt của vua Xiêm.
6. Trận Ngọc Hồi – Đống Đa
Chỉ 4 năm sau chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, quân Tây Sơn tiếp tục giành được đại thắng trước quân xâm lược nhà Thanh vào miền Bắc Đại Việt. Quân Tây Sơn gây bất ngờ cho địch khi tấn công vào những ngày đầu năm mới, năm Kỷ Dậu 1789.
Sở hữu đội tượng binh, với trên 100 voi chiến, quân Tây Sơn giành đại thắng vang dội ở Đồn Ngọc Hồi, khiến binh địch ồ ạt tháo chạy về Thăng Long. Trên đường rút chạy, quân Thanh bị mai phục, chết nhiều. Đại thắng ở Ngọc Hồi tạo bàn đạp cho quân Tây Sơn tiến thẳng về Thăng Long, buộc chỉ huy giặc là Tôn Sĩ nghị tháo chạy thoát thân.
7. Chiến dịch Điện Biên Phủ
Chiến thắng Điện Biên Phủ là thành quả nhiều năm chuẩn bị của Quân đội nhân dân Việt Nam diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh, nay là thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Đây là chiến thắng lớn và quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định cho chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954 của Việt Nam.
Gắn liền với tên tuổi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã buộc quân Pháp ở pháo đài "bất khả xâm phạm" Điện Biên Phủ phải đầu hàng tháng 5/1954, sau suốt gần 2 tháng nằm dưới tầm đạn pháo của quân đội Việt Nam. Thảm bại ở thung lũng Mường Thanh khiến Pháp và Mỹ buộc phải công nhận hòa bình của Việt Nam.
Trên phương diện quốc tế, chiến dịch Điện Biên Phủ của quân và dân Việt Nam đã đi vào lịch sử nhân loại bởi đây là lần đầu tiên quân đội của một nước từng là thuộc địa ở châu Á đánh bại đội quân hiện đại và tối tân của một cường quốc châu Âu, được hỗ trợ của đồng minh Mỹ. Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ đập tan tham vọng duy trì thuộc địa ở Đông Dương của Pháp mà còn tạo bàn đạp cho các nước thuộc địa Pháp ở châu Phi vùng lên giành độc lập.
8. Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, quân và dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, khiến cả thế giới phải cúi mình thán phục. Nhằm ép đoàn Việt Nam vào thế bất lợi trên bàn đàm phán, Mỹ đã dùng máy bay B-52 ồ ạt ném bom thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn ở miền Bắc Việt Nam.
Tuy nhiên, những cuộc tập kích ồ ạt, táo bạo của Mỹ đã gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ của quân và dân Việt Nam, với kết cục không thể bi thảm hơn cho người Mỹ. Được mệnh danh là pháo đài bay “bất khả xâm phạm” nhưng bầu trời miền Bắc Việt Nam là tử địa với B-52 của Mỹ. Trong 12 ngày đêm ồ ạt tấn công, trên 80 máy bay Mỹ, trong đó có hơn 30 pháo đài bay B-52 đã bị bắn hạ, hàng trăm phi công chết hoặc bị bắt làm tù binh.
Gây bất ngờ lớn cho thế giới sau chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, chiến thắng rền vang trên bầu trời Hà Nội những ngày tháng 12 năm 1972 tiếp tục khiến thế giới bội phần thán phục tinh thần chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của quân và dân Việt Nam, tạo lợi thế lớn cho phái đoàn đàm phán của ta ở Paris, Pháp. Tính tới thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn là quốc gia đầu tiên và duy nhất bắn hạ các pháo đài bay B-52 của Mỹ, dù chúng đã và đang được Washington tin dùng.
9. Chiến dịch Hồ Chí Minh
Là chiến dịch cuối cùng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi hoàn toàn, dẫn tới sự chấm dứt 21 năm chia cắt hai miền Nam – Bắc, đưa non sông nối liền một dải.
Diễn ra từ ngày 26/4 và kéo dài tới ngày 2/5/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch lớn nhất, ngắn nhất và cũng là chiến dịch cuối cùng trong chiến tranh tại Việt Nam. Giống với chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử cũng do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam chỉ huy.
Với sự tham gia của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng miền Nam, chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc với sự tan rã hoàn toàn của Ngụy quyền Sài Gòn, mang lại sự thống nhất, độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ trên đất liền, vùng trời, vùng biển của Việt Nam sau hơn 100 năm bị nước ngoài chiếm đóng và chia cắt.
(Trịnh Duy, baomoi.com)
Kể từ thế kỷ 18, Mỹ đã tham gia vào nhiều cuộc chiến tranh, một số trên lãnh thổ của mình, số còn lại trên khắp thế giới. Đối với bất cứ cuộc chiến tranh nào, cái giá phải trả đắt nhất chính là cuộc sống con người. Bên cạnh đó, Mỹ cũng phải chịu gánh nặng tài chính rất lớn.
Chi phí quân sự của các cuộc chiến tranh được liệt kê dưới đây đã được điều chỉnh so với tỷ lệ lạm phát (năm 2011).
10. Chiến tranh Mexico - Mỹ: 2,3 tỷ USD
Mặc dù cuộc xung đột này có chi phí thấp hơn so với cuộc chiến năm 1812, chi phí quân sự từ năm 1846 đến 1849 được điều chỉnh theo lạm phát là trên 2 tỷ USD (đồng USD năm 1847 có giá trị cao hơn so với năm 1813). Chính phủ Mỹ đã sáp nhập Texas trong thời gian này và dẫn đến chiến tranh. Chiến tranh kéo dài 21 tháng và kết thúc với chiến thắng của nước Mỹ. Trong năm 1847, chi tiêu quốc phòng đã đạt mức cao 1,9% trong tổng GDP của Mỹ.
9. Cuộc cách mạng Mỹ: 2,4 tỷ USD
Đây là thời kỳ lịch sử nổi tiếng khi Hoa Kỳ chiến đấu chống lại đế quốc Anh và giành chiến thắng. Cuộc cách mạng kéo dài từ năm 1765 đến năm 1783. Trong suốt 8 năm xung đột vũ trang, Mỹ đã chi số tiền tương đương 2,4 tỷ USD hiện nay để giành được độc lập từ tay đế quốc Anh. Các điều ước được thiết lập trong hiệp định Paris đã kết thúc cuộc chiến tranh và từ đó quốc gia non trẻ Mỹ phát triển thành một siêu cường quốc như hiện nay.
8. Chiến tranh Tây Ban Nha - Mỹ: 9 tỷ USD
Mặc dù cuộc chiến này chỉ kéo dài vài tháng trong năm 1898 nhưng nó lại cực kỳ tốn kém, do  xung đột diễn ra ở nhiều nơi như Cuba, Puerto Rico, Philippinnes và Guam. Các chi phí chiếm tới 1,5% GDP của nước này trong năm 1899, nhưng nó đã mang lại cho Mỹ một số vùng lãnh thổ ở nước ngoài- và sự chú ý của toàn thế giới.
7. Nội chiến Mỹ: 79,7 tỷ USD
Đây là một cuộc chiến tranh lớn diễn ra trên khắp nước Mỹ từ năm 1861 đến năm 1865. Chi phí khổng lồ có thể được chia cho mỗi bên: 59,6 tỷ USD cho liên bang và 20,1 tỷ USD của quân đồng minh. Cuộc chiến tranh đã làm tê liệt hệ thống tài chính và gây thiệt hại nghiêm trọng về con người: 750.000 quân lính đã tử vong, biến nó trở thành cuộc chiến tranh nguy hiểm nhất trong lịch sử nước Mỹ về số lượng người tử vong. Chỉ tính riêng trận Gettysburg đã khiến 8.000 người tử vong. Chiến tranh năm 1865 chiếm 11,7% GDP của Mỹ.
6. Chiến tranh vùng Vịnh: 102 tỷ đô la USD
Bước vào thế kỷ 20 đắt đỏ, chiến tranh vùng Vịnh 1990-1991 đã chiếm tới hơn 100 tỷ USD. Một liên minh được thành lập để loại trừ quân xâm lược Iraq đã phá vỡ luật pháp quốc tế và chiếm đóng Kuwait. Mặc dù Ả Rập Saudi đã gánh 36 tỷ USD trong hóa đơn quân sự 61 tỷ đô la của Mỹ. Tuy nhiên nó vẫn chiếm 4,6% GDP cho chi tiêu quân sự năm 1991 của Mỹ.
5. Chiến tranh thế giới thứ I: 334 tỷ USD
Thế chiến thứ I kéo dài từ 1914-1918, với việc Hoa Kỳ tham gia vào chiến tranh và gia nhập các nước đồng minh vào năm 1917. Trong năm tham gia vào trận đại chiến này, Mỹ mất hơn 100.000 quân lính và chi tiêu quốc phòng năm 1919 chiếm 14,1% GDP.
4. Chiến tranh Triều Tiên: 341 tỷ USD
Đắt đỏ hơn cả Thế chiến thứ I là cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950-1953. Thường được gọi là cuộc chiến bị quên lãng, hàng trăm ngàn lính Mỹ đã chiến đấu ở phía bên kia bán cầu, trong khi thế giới vẫn đang vượt qua sự tàn phá kinh hoàng của thế chiến II. Năm 1952 13,2% GDP của Mỹ đã được chi cho quốc phòng và thế giới bắt đầu cảm thấy lo lắng về sự leo thang của một cuộc chiến tranh hạt nhân.
3. Chiến tranh Việt Nam: 738 tỷ USD
Cuộc chiến kéo dài từ năm 1956 đến năm 1975 (với các hoạt động quân sự của Mỹ bắt đầu chính thức từ năm 1965) với việc Mỹ đã huy động hàng ngàn binh lính tham gia cuộc chiến. 9,5% GDP Mỹ đã được sử dụng vào năm 1968, nhưng đế quốc số 1 đã thất bại ê chề.
2. Cuộc chiến chống khủng bố: 1.147 tỷ USD
Tiến tới mức nghìn tỷ đô la là cuộc chiến tranh chống khủng bố diễn ra gần đây, trong đó bao gồm chiến tranh Iraq (2003-2011) và cuộc chiến tranh ở Afghanistan (từ 2001 đến nay). Chiếm 4,3% GDP Mỹ vào năm 2008, Mỹ đã có một vài thành công cũng như thất bại đau đớn. Gần đây, Mỹ cam kết rút quân khỏi Afghanistan, nhưng quá trình dự kiến phải mất nhiều năm.
1. Chiến tranh thế giới thứ II: 4.104 tỷ USD
Cuộc chiến tranh tàn phá thế giới diễn ra từ 1939 đến 1945, chứng kiến sự gia nhập của Hoa Kỳ vào năm 1941 sau đại chiến Trân Châu cảng. Trong năm cuối cùng của cuộc chiến, Mỹ đã chi tiêu 37,5% GDP của mình cho quốc phòng, với con số 35,8% GDP được xem như chi phí chiến tranh. Cuộc chiến tranh đã cướp đi mạng sống của 400.000 người Mỹ, và tổng số ước tính khoảng 80 triệu người trên thế giới. Tuy nhiên, một số nhà phân tích ước tính rằng chi phí cuộc chiến chống khủng bố có thể lên tới 4,4 nghìn tỷ USD.
(Nguồn: Minh Trang, nguoiduatin.vn)

Diều hâu mẹ đi tìm thức ăn cho con, nhưng đã bay cả ngày trời mà vẫn không tìm thấy gì. Thế là nó đành phải chộp một con mèo hoa trong sân gia đình nọ.
Diều hâu vứt con mèo hoa vòa trong tổ, rồi lại bay đi kiếm thức ăn dành đến hôm sau cho con.
Sau khi diều hâu bay đi, mèo hoa đã ăn thịt hết diều hâu con.
Diều hâu mẹ trở về, phát hiện con mình bị mèo ăn thịt, lòng đau dạ xót vô cùng. Thấy vậy, mèo hoa mỉa mai:
- Làm gì mà phải đau xót thế. Chẳng phải chính mụ mời tôi về làm khách đó sao?
(Nguồn: etruyen.com)
Conbunhinrom.blogpost.com - Diễn đàn thông tin, trao đổi trung thực, khách quan về những vấn đề chính trị liên quan đến Việt Nam - Tiếng nói trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam yêu nước.
Thời gian qua, Blog Bù Nhìn Rơm nhận được các bài viết trao đổi, luận bàn về các vấn đề chính trị của nhiều tác giả ở khắp mọi miền Tổ quốc và người Việt Nam ở nước ngoài. Blog Bù Nhìn Rơm trân trọng cảm ơn và chào mừng sự quan tâm, góp sức xây dựng diễn đàn của quý độc giả.
Mọi bài viết, ý kiến đóng góp quý vị gửi về địa chỉ Email:
bunhinrom007@gmail.com
Trân trọng cảm ơn./.
Em Vương Thị Pằng (bên phải)
Sinh ra trong một gia đình khó khăn, nhà nghèo, nhưng em Vương Thị Pằng, dân tộc Mông, học sinh lớp 5, Trường Tiểu học Lũng Lìu, xã Dân Chủ (Hòa An) vẫn cố gắng vượt khó, đạt thành tích cao trong học tập và tích cực tham gia các hoạt động của trường, Đội.
Gia đình em Pằng sinh sống ở xóm Lũng Lạ, xã Dân Chủ, là một trong những xóm vùng ba khó khăn nhất của xã, địa hình chủ yếu là núi đá, thiếu đất sản xuất nông nghiệp. Nhà nghèo, bố mẹ em quanh năm chỉ làm nương rẫy, nuôi bò. Là con thứ hai trong gia đình nên ngoài thời gian đi học em còn ở nhà phụ giúp bố mẹ nấu cơm, giặt quần áo, chăn bò, trông em. Thấu hiểu được những khó khăn của gia đình, Pằng luôn nỗ lực học tập thật tốt. Em Pằng chia sẻ: Em thích nhất môn Toán, trên lớp em luôn chú ý nghe giảng và thường xuyên làm nhiều bài tập, chỗ nào chưa hiểu đến lớp em sẽ hỏi cô giáo. Do bố mẹ em không biết chữ nên ở nhà em còn dành thời gian dạy em gái học bài. Say mê học tập, Pằng không nghỉ buổi học nào, nhà em cách trường hơn 2 km, phải đi bộ hơn một tiếng nhưng em vẫn cố gắng đến trường đúng giờ. Pằng nói: Sáng nào em cũng phải dậy từ 5 giờ sáng để chuẩn bị đồ và dắt em học lớp 2 cùng đến trường. Hôm nào học cả ngày mẹ em gói cơm hoặc mèn mén, một ít rau để chúng em ăn trưa tại lớp, chiều học xong mới về nhà.
Tuy hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhưng với nghị lực và quyết tâm học tập của cô học trò nghèo dân tộc Mông, từ lớp 1 đến lớp 4, Pằng đều đạt học sinh giỏi, những tấm giấy khen chính là sự khích lệ, động viên Pằng tiếp tục vượt khó, vươn lên trong học tập. Bên cạnh đó, Pằng còn là một lớp trưởng gương mẫu, Liên đội trưởng năng động, tham gia nhiệt tình các hoạt động Đội và phong trào thiếu nhi của trường.
Cô giáo Tô Thị Tiềm, Giáo viên chủ nhiệm lớp của Pằng nhận xét: Pằng là học sinh ngoan, học giỏi, mặc dù nhà em ở xa nhất so với các bạn trong lớp nhưng luôn đi học đúng giờ. Em học đều tất cả các môn, nổi bật nhất là môn Toán. Em còn nhiệt tình tham gia các hoạt động của trường, lớp, thường xuyên kèm cặp, hướng dẫn làm bài tập cho các bạn học yếu trong lớp, được thầy cô và bạn bè yêu quý.
Cô học trò nghèo dân tộc Mông có ước mơ sau này trở thành giáo viên, em sẽ quay lại quê nhà để mang cái chữ đến cho người dân tộc Mông của mình. Chúc cho ước mơ của em sẽ trở thành hiện thực.
(Nguồn: baocaobang.vn)


Chào ông Đặng Xương Hùng, tôi với ông vốn chẳng biết nhau (vì ông ở Thụy Sĩ), nhưng nghe tên và thấy bài viết bằng tiếng Việt của ông, tôi thấy rằng chúng ta có điểm chung đó là cùng mang dòng máu Việt Nam. Tuy nhiên, đọc qua bài “Mực Hay Máu” của ông trên Internet, tôi thấy rằng chúng ta khác nhau hoàn toàn (chúng ta gồm một bên là đồng bào Việt Nam và một bên là ông cùng bè lũ).
Ông dẫn chứng một câu nói của vị nào đó là Chủ tịch Hạ viện Bỉ (ông không chỉ ra tên tuổi cụ thể, nên tôi cũng không rõ vị đó là ai): “Nước Bỉ chúng tôi cũng có một lịch sử phức tạp. Chúng tôi chống đối nhau gay gắt. Chúng tôi tốn rất nhiều giấy, mực, nhưng chúng tôi không tốn máu”. Tạm cho rằng, ông trích dẫn là có thật (có thể ông chính là kịch bản của câu nói ấy). Vậy tôi xin có đôi điều luận bàn cùng ông Xương Hùng:
Ông ở Thụy Sĩ, mà lại tỏ ra tường minh về lịch sử đất nước Bỉ, tiếc rằng sự tỏ ra đó của ông không thuyết phục và nó dẫn đến một cách hiểu viển vông, hoang tưởng. “Chúng tôi chống đối nhau gay gắt. Chúng tôi tốn rất nhiều giấy, mực, nhưng chúng tôi không tốn máu”. Câu nói ấy, được hiểu theo hai khía cạnh:
Thứ nhất, “Chúng tôi chống đối nhau gay gắt” không liên quan gì đến chống ngoại bang xâm lược, đến bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Vì lẽ, hẳn ông Chủ tịch Hạ viện Bỉ luôn rõ về lịch sử nước Bỉ, chứ không mông nung như cách diễn đạt, phân tích của ông Đặng Xương Hùng. Lịch sử nước Bỉ cũng như nhiều quốc gia khác, trải qua những tiến trình lịch sử từ thời Trung Cổ đến hiện đại, đều xảy ra những xung đột đổ máu. Trong lịch sử nước Bỉ, những sự kiện như Cuộc chiến tranh tám mươi năm (1568–1648), Cuộc cách mạng Bỉ năm 1830, Đức xâm lược Bỉ năm 1914, Congo Bỉ giành được độc lập năm 1960 trong cuộc Khủng hoảng Congo… chứng minh cho thấy rằng, để có một nước Bỉ độc lập, chủ quyền như ngày nay, nhân dân Bỉ đều trải qua quá trình đấu tranh với nhiều hình thức, trong đó có cả vũ trang (“đổ máu” theo cách viết của ông Xương Hùng).
Thứ hai, sự phát triển của Bỉ nói riêng và xã hội loài người nói chung thuận theo quy luật mâu thuẫn là nguồn gốc động lực của sự phát triển. Một nước Bỉ hòa bình, độc lập, thống nhất, không có bàn tay can thiệp của ngoại bang thì sao cần đổ máu, khối óc tranh luận gay gắt để có sự phát triển là lẽ đương nhiên, không phải bàn cãi.
Như vậy, câu nói trên được Đặng Xương Hùng trích dẫn, người nói không hề có “thiển ý hay thâm ý”, đó chỉ là cách diễn đạt về lịch sử Bỉ, không mang ra so sánh với bất kỳ quốc gia nào (có chăng là sự suy diễn tùy tiện của ông Hùng). Mỗi mỗi đất nước có quá trình hình thành, điều kiện khác nhau, làm nên lịch sử không đồng nhất giữa các dân tộc. 
Quay trở lại cách hiểu lệch lạc, cách diễn đạt xuyên tạc, vu cáo của ông Xương Hùng để cho mọi người tỏ bày chân tướng sự việc:
“Tốn máu là phi lý, tốn giấy mực là chưa mất gì… Máu là giải pháp cho một cuộc thắng thua đau đớn. Mực là hướng tới một kết quả cùng thắng win-win”.
Bại não mang tên Đặng Xương Hùng thật chẳng hiểu từ đâu chui lên, hay rời từ đâu xuống mặt đất, ăn nói ngễnh ngãng, tẽn tò với thời cuộc. Hùng không chỉ nhằm vào việc xuyên tạc, phỉ báng cuộc đấu tranh của bao thế hệ người Việt bảo vệ độc lập, chủ quyền mà còn trà đạp lên những hi sinh nhân văn của loài người, hành động chính nghĩa, quả cảm của nhiều dân tộc trên thế giới. “Tốn máu là phi lý”? Còn làm nô lệ là có lý? Mất chủ quyền là có lý? Chịu sự diệt chủng của phát xít, chấp nhận chế độ Pol pot là có lý? Không “tốn máu”, sao quân đồng minh chiến thắng chế độ diệt chủng của bọn phát xít? Không “tốn máu” sao 13 bang thuộc địa Bắc Mỹ giành độc lập để tạo nên một đất nước siêu cường bây giờ??? Không “tốn máu” sao chiến thắng được những thế lực đen tối, những gươm giáo, súng đạn của kẻ ngoại bang xâm lăng dân tộc?
Đặng Xương Hùng tiếp tục sai toàn diện, tuyệt đối sai. Vốn hiểu biết chắp vá Hùng có dẫn chứng thiếu đầy đủ câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Pháp anh hùng của dân tộc (1946-1954). “Kêu gọi “Thà hy sinh tất cả”… là sự tốn máu vô nghĩa, vì lợi ích của kẻ thù phương Bắc”. Xin hỏi ông Hùng câu hỏi có phần riêng tư: Khi vợ con ông bị một tên lưu manh người Thụy Sỹ xông vào nhà nã súng, con chết, vợ bị thương, tên sát nhân còn đó, liệu ông có “tốn giấy mực để chưa mất gì”?
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, kết thúc 9 năm kháng chiến chống Pháp xâm lược lần 2
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đoàn kết toàn quân, toàn dân nhất tề đứng lên kháng chiến chống Pháp trở lại xâm lược, bảo vệ nền hòa bình mới giành được sau 80 năm Pháp đô hộ: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Đặng Xuân Hùng đang ra sức “ăn cháo đá bát” rất tanh tưởi của kẻ máu lạnh lưu vong mang dã tâm chống phá Tổ quốc và Nhân dân Việt Nam.
Xin thay lời kết bằng câu viết của ông Đặng Xuân Hùng:
“Lịch sử ghi danh cả người có công và cả người có tội. Ở bên nào đây đó là quyết định của từng con người.”
Lịch sử vinh danh những con người biết yêu hòa bình, quý trọng độc lập, tự do và trách nhiệm với đất nước. Lịch sử sẽ ghi tên những kẻ chống phá các giá trị nhân văn của loài người để cho đầu thai kiếp bọ hung, ruồi xanh nhặng vàng.
Đa Nhĩ Cổn
Cảm nhận vẻ đẹp của các bãi biển Việt Nam, yêu lắm Tổ quốc Việt Nam!
Côn Đảo

Vịnh Hạ Long

Đồi Dương, Phan Thiết
Trà Cổ, Móng Cái
Quan Nại, Bái Tử Long
Nha Trang
Quy Nhơn, Bình Định
Lăng Cô, Huế
Cửa Đại
Mũi Né
Dốc Lết


Một người thợ làm bút chì căn dặn cây bút chì vừa làm ra “Trước khi ngươi được mang ra thế giới bên ngoài, ta có vài điều căn dặn “. Cây bút chì chăm chú lắng nghe từng lời của ông, ông bắt đầu nói: “Đây là những điều vô cùng quan trọng, ngươi không bao giờ được quên, nếu ngươi mong muốn trở thành một cây bút chì tốt nhất mà ngươi có thể”.
1. Đau đớn khi bị gọt giũa hết lần này đến lần khác là những gì ngươi sẽ phải trải qua, tất cả những điều đó là cần thiết để ngươi trở thành một cây bút chì tốt hơn.
2. Chỉ khi ngươi được một người khác sử dụng, cầm trong tay thì khi đó ngươi mới có thể làm được nhiều công việc, thậm chí có thể là những điều vô cùng vĩ đại.
3. Đừng lo lắng về những lỗi lầm ngươi mắc phải, tất cả chúng đều có thể sửa chữa được nếu ngươi vô tình phạm phải.
4. Trên mỗi bề mặt mà Ngươi được dùng đến Ngươi phải để lại dấu ấn riêng của mình. Trong bất kỳ điều kiện làm việc gì, Ngươi cũng phải tiếp tục viết.
5. Những gì quan trọng nhất, tinh túy nhất và định nghĩa ngươi luôn là những gì nằm sâu bên trong của nhà ngươi.
Chiếc bút vâng lời, cảm ơn người thợ, khắc cốt ghi tâm từng lời dạy và ngoan ngoãn nằm vào hộp, với mục đích cuộc đời mình in hằn trong tim.
           LỜI BÀN: Câu chuyện trên chỉ là về cây bút chì, nhưng bạn hãy đặt bản thân mình vào vị trí của chiếc bút chì đó. Câu chuyện bây giờ là về bạn, hãy ghi nhớ và đừng quên bài học hôm nay để trở thành một người tốt nhất trong khả năng của bạn.
(Nguồn: vietnamthuquan.vn)

Mùa khô tới, trời nắng nóng, ao hồ cạn khô. Có hai con rắn muốn kiếm chỗ chuyển đi. Rắn nhỏ nói với Rắn to:
- Anh đi trước, tôi theo sau, chớ để cho ai thấy chúng mình chuyển nơi ở, họ mà thấy thì thế nào cũng giết chết chúng ta. Bây giờ anh để tôi ngậm vào người anh, anh cõng tôi đi. Giá như người ta phát hiện, họ sẽ nghị rằng chúng ta là Rắn thần, họ sẽ không dám làm gì chúng ta.
Hai con rắn y kế kéo nhau qua đường. Quả đúng như vậy, người trông thấy ai cũng sợ mà tránh xa và nói với nhau: Đó là “Rắn Thần”.
LỜI BÀN: Khi gặp nguy hiểm, đoàn kết lại sẽ đem lại sức mạnh và điều kì diệu. Trước khi làm việc gì cũng phải suy nghĩ thật thận trọng, biết người biết ta trăm trận trăm thắng. Hai con rắn đã suy nghĩ và hành động phù hợp nên đã thành công.
(Nguồn: vietnamthuquan.vn)
Flag Counter

Sự Thật và Dối Trá

Sự Thật và Dối Trá

XEM NHIỀU

bunhinrom007@gmail.com. Được tạo bởi Blogger.

Lượt Xem